Thị trường Tài chính Việt Nam đang có dấu hiệu 'trời yên biển lặng' trở lại?

By Best Tài Chính

Có phải bạn đang tìm kiếm chủ đề về => Thị trường Tài chính Việt Nam đang có dấu hiệu 'trời yên biển lặng' trở lại? phải không? Nếu đúng như vậy thì mời bạn xem nó ngay tại đây. Xem thêm các tin tài chính khác tại đây => Tài chính

Theo TS Trương Văn Phước, nguyên Quyền Chủ tịch Ủy ban Giám sát tài chính Quốc gia, sau một thời gian trồi sụt khó khăn, thị trường tài chính Việt Nam đang có dấu hiệu “trời yên biển lặng” trở lại trên nền của nhiều bất ổn.

TS Trương Văn Phước, nguyên Quyền Chủ tịch Ủy ban Giám sát tài chính Quốc gia. (Tấm ảnh: Hội nghị).

Phóng viên: Theo ông, các ngân hàng trung ương trên thế giới gặp khó khăn gì trong điều hành chính sách tiền tệ năm 2022?

TS Trương Văn Phước: Năm 2022, kinh tế thế giới sẽ rơi vào giai đoạn cực kỳ khó khăn. Đó là hậu quả của COVID-19, của sự gián đoạn chuỗi cung ứng. Các nước trên thế giới tin rằng việc đưa ra các gói hỗ trợ tiền tệ khổng lồ sẽ giúp người dân và doanh nghiệp vượt qua khó khăn, nhưng nhiều yếu tố vượt quá mong đợi.

Giữa tháng 2/2022, xung đột Nga-Ukraine diễn ra không chỉ về quân sự mà cả về kinh tế, tài chính, tiền tệ. Nó làm trầm trọng thêm tình trạng đứt gãy chuỗi cung ứng, trong đó có nguồn cung lương thực bởi Nga và Ukraine là những nước sản xuất nông nghiệp, cung cấp nguồn lương thực tương đối lớn.

Tiếp theo là các biện pháp trừng phạt của Mỹ và châu Âu đối với Nga, và phản ứng của Nga đối với khí đốt đã tạo ra một cuộc khủng hoảng năng lượng. Các gói hỗ trợ tiền tệ từng có quy mô quá lớn hiện đang đối mặt với nhiều bất ổn khiến lạm phát bùng nổ ở hầu hết các quốc gia trên thế giới.

Theo đó, các ngân hàng trung ương (NHTW) phải đáp trả bằng chính sách tiền tệ, thông qua việc tăng nhanh lãi suất. Việc Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) tăng lãi suất lên trên 4% mới đây đã tạo ra bước ngoặt mới trên thị trường tiền tệ quốc tế khi dòng vốn quay trở lại Mỹ để hưởng lợi suất trái phiếu tốt. và tỷ giá USD cao hơn.

Một cuộc chiến tranh tiền tệ giữa USD với các đồng tiền khác trên thế giới đã nổ ra và trên thực tế USD đã chiến thắng với lợi thế truyền thống về tỷ giá và lãi suất. Đối với Việt Nam, nhà điều hành đã thực hiện chính sách “lò đá qua sông”. Lần mò từng bước “lắng nghe” tác động của xung đột quân sự, gián đoạn chuỗi cung ứng, lạm phát, giá năng lượng tăng cao, lãi suất thế giới tăng, USD tăng

PV: Các đồng tiền chủ chốt trên thế giới đều mất giá mạnh so với USD trong khi VND mất giá ít hơn nhiều. Lý do là gì thưa ông?

TS Trương Văn Phước: Ở các nước khác, việc phá giá đồng nội tệ có thể nói là xuất phát từ bất ổn kinh tế vĩ mô do lạm phát cao, cán cân thanh toán mất cân đối, đặc biệt là thiếu năng lượng và lương thực.

Trong khi đó, ở Việt Nam, các chỉ số kinh tế vĩ mô những tháng đầu năm khá tốt, lạm phát bình quân còn thấp nên việc sử dụng các công cụ chính sách tiền tệ để kiểm soát lạm phát còn ở mức nhỏ. Ở góc độ thị trường, chúng ta có dự trữ ngoại tệ lớn và đã được sử dụng để can thiệp thị trường, trong khi dòng vốn nước ngoài vẫn vào, cả trực tiếp và gián tiếp, cán cân thương mại hiện nay đang xuất khẩu. siêu.

Quan hệ cung cầu USD đảm bảo cho chúng ta có một USD không tăng giá nhiều so với VND. Nguyên nhân khiến USD tăng giá so với VND không phải do yếu tố cơ bản của Việt Nam, mà do sức hút của USD quá lớn khi thế giới có bất ổn. Có thể nói, tỷ giá và lãi suất VND khá ổn định trong 9 tháng đầu năm 2022.

Nguyên nhân có thể do lãi suất của VND trong thời gian này khá cao so với các ngoại tệ khác, đặc biệt là USD. Nhưng đến tháng 10/2022, việc Chính phủ xử lý vi phạm trên thị trường trái phiếu doanh nghiệp đã tác động đến tâm lý nhà đầu tư trên thị trường.

Cùng với đó, đà tăng của đồng USD đạt đỉnh khiến lãi suất và tỷ giá tại Việt Nam biến động. Để đối phó và xoa dịu những biến động này, NHNN đã tăng lãi suất điều hành thêm 2%, đồng thời mở rộng biên độ mua bán của tỷ giá từ (+/-) 3% lên (+/-) 5%.

PV: Trong bối cảnh lạm phát toàn cầu tăng cao và đồng USD tăng giá mạnh, NHNN đã hai lần tăng lãi suất điều hành để giữ giá VND. Bạn đánh giá thế nào về động thái này?

TS Trương Văn Phước: Các NHTW trên thế giới điều chỉnh lãi suất với 3 mục tiêu chính. Thứ nhất, khi lãi suất tăng, giá tiền tăng và cầu giảm. Điều này giúp thực hiện mong muốn giảm nhu cầu tín dụng ở các quốc gia có lạm phát cao.

Thứ hai, hạ nhiệt thị trường lao động đang cực nóng. Bởi lẽ, sau đại dịch COVID-19, các quốc gia từng áp dụng biện pháp tăng lương để kéo lao động, chống lạm phát đã rơi vào thế khó.

Tức là giá cả tăng khiến lương tăng, lương tăng khiến giá cả tăng. Thứ ba, tăng lãi suất cuối cùng làm cho đồng nội tệ tăng giá. Hay nói một cách đơn giản, việc tăng lãi suất khiến tỷ giá hối đoái giảm. Hiện nay, lãi suất danh nghĩa trừ đi lạm phát kỳ vọng, lãi suất thực dương của Việt Nam vẫn ở mức rất cao.

Trong khi đó, nếu Mỹ tăng lãi suất mà NHNN vẫn để trần lãi suất huy động kỳ hạn 6 tháng ở mức 4%/năm thì cũng “không ổn”. Trong năm 2022, NHNN đã 2 lần tăng lãi suất điều hành, mỗi lần 1 điểm phần trăm, đây có thể nói là mức tăng rất lớn.

Bên cạnh đó, NHNN cũng nới biên độ tỷ giá từ 3% lên 5%. Tỷ giá thị trường có lúc tăng gần 10% so với tỷ giá ngân hàng. Trong bối cảnh đồng USD tăng giá mạnh, chắc chắn NHNN không thể “ngồi yên”. Vì vậy, cách hành xử của NHNN có thể chấp nhận được trong bối cảnh biến động linh hoạt. Việt Nam chưa rối loạn nhưng đã có những phản ứng tương đối mạnh, dù chỉ trong một thời gian ngắn.

PV: Theo nhiều chuyên gia, áp lực tỷ giá vẫn hiện hữu. Ông dự báo thế nào về tỷ giá và lãi suất của Việt Nam trong năm 2023?

TS Trương Văn Phước: Năm 2023, kinh tế thế giới đứng trước bờ vực suy thoái, bởi chính sách chống lạm phát bằng cách tăng lãi suất quá cao sẽ có tác dụng phụ, mà theo kinh tế học là suy thoái. Vì vậy, khi lạm phát đạt đỉnh và đang đi xuống, các ngân hàng trung ương phải tính phương án giảm liều “vắc xin” tiêm vào nền kinh tế.

Đó là lý do tại sao ngày 14/12/2022 Fed chỉ tăng 50 điểm cơ bản so với kế hoạch 75 điểm trước đó, đưa lãi suất điều hành lên 4,25 – 4,5%. Có thể quý I/2023 tăng chút đỉnh nhưng sẽ dừng ở mức 5% và sẽ đảo chiều sau đó.

Vào năm 2023, các ngân hàng trung ương muốn đưa lãi suất thực về trạng thái cân bằng, không dương cũng không âm. Hiện nay, ở hầu hết các nước trên thế giới, lãi suất thực (lãi suất đã trừ lạm phát) đều âm, nghĩa là lạm phát cao nhưng lãi suất thấp.

Ở Việt Nam thì ngược lại, lạm phát thấp và lãi suất cao. Lãi suất huy động tại các ngân hàng Việt Nam khoảng 8-9%/năm, so với lạm phát 4%, như vậy lãi suất thực ở Việt Nam là dương. Lợi thế của chúng ta hiện nay là có thể hạ lãi suất sao cho chênh lệch giữa lãi suất danh nghĩa và lạm phát vẫn ở mức dương vừa phải nhưng tương thích với lạm phát.

Chẳng hạn, mức lạm phát được Quốc hội thông qua cho năm 2023 là 4,5%, tức là chênh lệch sẽ khoảng 2-3%, thì lãi suất huy động bình quân của Việt Nam dự báo ở mức 6,5-7,5% là hợp lý. Tóm lại, lãi suất có thể xuống thấp.

Nhìn chung, thị trường tài chính Việt Nam đang có dấu hiệu lắng dịu trở lại trên nền sóng gió. Năm 2023, điều Việt Nam cần quan tâm, theo dõi và dự báo là những tác động từ bên ngoài.

Theo đó, năm nay, tình hình được dự báo vẫn còn khó khăn khi tăng trưởng toàn cầu được dự báo giảm xuống 2,6% nhưng lạm phát thế giới vẫn ở mức trên 5% (5,3-5,7%). . Với lạm phát thế giới thấp hơn, điều hành kinh tế vĩ mô của Việt Nam sẽ thuận lợi hơn. Giá trị sức mua nội địa ở các nước nói chung không mất giá nhiều thì khả năng xuất khẩu của Việt Nam sẽ dễ dàng hơn.

Nhìn lại năm 2022, có thể thấy thị trường tài chính Việt Nam còn nhiều vấn đề cần khắc phục về thể chế, đặc biệt là cơ chế giám sát cần được hoàn thiện. Mô hình hiện nay ở Việt Nam – nhà hoạch định chính sách đồng thời là người theo dõi thị trường – dường như không còn phù hợp.

Điều này cần được xem xét một cách thận trọng, nghiêm túc và kịp thời, kể cả đối với thị trường vốn và thị trường tiền tệ. Khung pháp lý, các quy định pháp luật và cơ chế giám sát cần được điều chỉnh theo hướng khoa học và thực tiễn hơn.

PV: Xin cảm ơn ông!

SSI: Tỷ giá liên ngân hàng giảm về 23.450 VND/USD có thể kích hoạt hoạt động bán USD từ các ngân hàng thương mại.

SSI: Tỷ giá liên ngân hàng giảm về 23.450 VND/USD có thể kích hoạt hoạt động bán USD từ các ngân hàng thương mại.

09-01-2023

Mirae Asset: Chính sách tiền tệ sẽ tiếp tục thắt chặt trong nửa đầu năm 2023, VND mất giá cầm chừng

03-01-2023

UOB: Đà tăng vừa qua của VND có thể không kéo dài

Phương Nga


Thông tin thêm

Thị trường Tài chính Việt Nam đang có dấu hiệu 'trời yên biển lặng' trở lại?

Theo TS Trương Văn Phước, nguyên Quyền Chủ tịch Ủy ban Giám sát tài chính Quốc gia, sau một thời gian trồi sụt khó khăn, thị trường tài chính Việt Nam đang có dấu hiệu “trời yên biển lặng” trở lại trên nền của nhiều bất ổn.

TS Trương Văn Phước, nguyên Quyền Chủ tịch Ủy ban Giám sát tài chính Quốc gia. (Tấm ảnh: Hội nghị).

Phóng viên: Theo ông, các ngân hàng trung ương trên thế giới gặp khó khăn gì trong điều hành chính sách tiền tệ năm 2022?

TS Trương Văn Phước: Năm 2022, kinh tế thế giới sẽ rơi vào giai đoạn cực kỳ khó khăn. Đó là hậu quả của COVID-19, của sự gián đoạn chuỗi cung ứng. Các nước trên thế giới tin rằng việc đưa ra các gói hỗ trợ tiền tệ khổng lồ sẽ giúp người dân và doanh nghiệp vượt qua khó khăn, nhưng nhiều yếu tố vượt quá mong đợi.

Giữa tháng 2/2022, xung đột Nga-Ukraine diễn ra không chỉ về quân sự mà cả về kinh tế, tài chính, tiền tệ. Nó làm trầm trọng thêm tình trạng đứt gãy chuỗi cung ứng, trong đó có nguồn cung lương thực bởi Nga và Ukraine là những nước sản xuất nông nghiệp, cung cấp nguồn lương thực tương đối lớn.

Tiếp theo là các biện pháp trừng phạt của Mỹ và châu Âu đối với Nga, và phản ứng của Nga đối với khí đốt đã tạo ra một cuộc khủng hoảng năng lượng. Các gói hỗ trợ tiền tệ từng có quy mô quá lớn hiện đang đối mặt với nhiều bất ổn khiến lạm phát bùng nổ ở hầu hết các quốc gia trên thế giới.

Theo đó, các ngân hàng trung ương (NHTW) phải đáp trả bằng chính sách tiền tệ, thông qua việc tăng nhanh lãi suất. Việc Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) tăng lãi suất lên trên 4% mới đây đã tạo ra bước ngoặt mới trên thị trường tiền tệ quốc tế khi dòng vốn quay trở lại Mỹ để hưởng lợi suất trái phiếu tốt. và tỷ giá USD cao hơn.

Một cuộc chiến tranh tiền tệ giữa USD với các đồng tiền khác trên thế giới đã nổ ra và trên thực tế USD đã chiến thắng với lợi thế truyền thống về tỷ giá và lãi suất. Đối với Việt Nam, nhà điều hành đã thực hiện chính sách “lò đá qua sông”. Lần mò từng bước “lắng nghe” tác động của xung đột quân sự, gián đoạn chuỗi cung ứng, lạm phát, giá năng lượng tăng cao, lãi suất thế giới tăng, USD tăng

PV: Các đồng tiền chủ chốt trên thế giới đều mất giá mạnh so với USD trong khi VND mất giá ít hơn nhiều. Lý do là gì thưa ông?

TS Trương Văn Phước: Ở các nước khác, việc phá giá đồng nội tệ có thể nói là xuất phát từ bất ổn kinh tế vĩ mô do lạm phát cao, cán cân thanh toán mất cân đối, đặc biệt là thiếu năng lượng và lương thực.

Trong khi đó, ở Việt Nam, các chỉ số kinh tế vĩ mô những tháng đầu năm khá tốt, lạm phát bình quân còn thấp nên việc sử dụng các công cụ chính sách tiền tệ để kiểm soát lạm phát còn ở mức nhỏ. Ở góc độ thị trường, chúng ta có dự trữ ngoại tệ lớn và đã được sử dụng để can thiệp thị trường, trong khi dòng vốn nước ngoài vẫn vào, cả trực tiếp và gián tiếp, cán cân thương mại hiện nay đang xuất khẩu. siêu.

Quan hệ cung cầu USD đảm bảo cho chúng ta có một USD không tăng giá nhiều so với VND. Nguyên nhân khiến USD tăng giá so với VND không phải do yếu tố cơ bản của Việt Nam, mà do sức hút của USD quá lớn khi thế giới có bất ổn. Có thể nói, tỷ giá và lãi suất VND khá ổn định trong 9 tháng đầu năm 2022.

Nguyên nhân có thể do lãi suất của VND trong thời gian này khá cao so với các ngoại tệ khác, đặc biệt là USD. Nhưng đến tháng 10/2022, việc Chính phủ xử lý vi phạm trên thị trường trái phiếu doanh nghiệp đã tác động đến tâm lý nhà đầu tư trên thị trường.

Cùng với đó, đà tăng của đồng USD đạt đỉnh khiến lãi suất và tỷ giá tại Việt Nam biến động. Để đối phó và xoa dịu những biến động này, NHNN đã tăng lãi suất điều hành thêm 2%, đồng thời mở rộng biên độ mua bán của tỷ giá từ (+/-) 3% lên (+/-) 5%.

PV: Trong bối cảnh lạm phát toàn cầu tăng cao và đồng USD tăng giá mạnh, NHNN đã hai lần tăng lãi suất điều hành để giữ giá VND. Bạn đánh giá thế nào về động thái này?

TS Trương Văn Phước: Các NHTW trên thế giới điều chỉnh lãi suất với 3 mục tiêu chính. Thứ nhất, khi lãi suất tăng, giá tiền tăng và cầu giảm. Điều này giúp thực hiện mong muốn giảm nhu cầu tín dụng ở các quốc gia có lạm phát cao.

Thứ hai, hạ nhiệt thị trường lao động đang cực nóng. Bởi lẽ, sau đại dịch COVID-19, các quốc gia từng áp dụng biện pháp tăng lương để kéo lao động, chống lạm phát đã rơi vào thế khó.

Tức là giá cả tăng khiến lương tăng, lương tăng khiến giá cả tăng. Thứ ba, tăng lãi suất cuối cùng làm cho đồng nội tệ tăng giá. Hay nói một cách đơn giản, việc tăng lãi suất khiến tỷ giá hối đoái giảm. Hiện nay, lãi suất danh nghĩa trừ đi lạm phát kỳ vọng, lãi suất thực dương của Việt Nam vẫn ở mức rất cao.

Trong khi đó, nếu Mỹ tăng lãi suất mà NHNN vẫn để trần lãi suất huy động kỳ hạn 6 tháng ở mức 4%/năm thì cũng “không ổn”. Trong năm 2022, NHNN đã 2 lần tăng lãi suất điều hành, mỗi lần 1 điểm phần trăm, đây có thể nói là mức tăng rất lớn.

Bên cạnh đó, NHNN cũng nới biên độ tỷ giá từ 3% lên 5%. Tỷ giá thị trường có lúc tăng gần 10% so với tỷ giá ngân hàng. Trong bối cảnh đồng USD tăng giá mạnh, chắc chắn NHNN không thể “ngồi yên”. Vì vậy, cách hành xử của NHNN có thể chấp nhận được trong bối cảnh biến động linh hoạt. Việt Nam chưa rối loạn nhưng đã có những phản ứng tương đối mạnh, dù chỉ trong một thời gian ngắn.

PV: Theo nhiều chuyên gia, áp lực tỷ giá vẫn hiện hữu. Ông dự báo thế nào về tỷ giá và lãi suất của Việt Nam trong năm 2023?

TS Trương Văn Phước: Năm 2023, kinh tế thế giới đứng trước bờ vực suy thoái, bởi chính sách chống lạm phát bằng cách tăng lãi suất quá cao sẽ có tác dụng phụ, mà theo kinh tế học là suy thoái. Vì vậy, khi lạm phát đạt đỉnh và đang đi xuống, các ngân hàng trung ương phải tính phương án giảm liều “vắc xin” tiêm vào nền kinh tế.

Đó là lý do tại sao ngày 14/12/2022 Fed chỉ tăng 50 điểm cơ bản so với kế hoạch 75 điểm trước đó, đưa lãi suất điều hành lên 4,25 - 4,5%. Có thể quý I/2023 tăng chút đỉnh nhưng sẽ dừng ở mức 5% và sẽ đảo chiều sau đó.

Vào năm 2023, các ngân hàng trung ương muốn đưa lãi suất thực về trạng thái cân bằng, không dương cũng không âm. Hiện nay, ở hầu hết các nước trên thế giới, lãi suất thực (lãi suất đã trừ lạm phát) đều âm, nghĩa là lạm phát cao nhưng lãi suất thấp.

Ở Việt Nam thì ngược lại, lạm phát thấp và lãi suất cao. Lãi suất huy động tại các ngân hàng Việt Nam khoảng 8-9%/năm, so với lạm phát 4%, như vậy lãi suất thực ở Việt Nam là dương. Lợi thế của chúng ta hiện nay là có thể hạ lãi suất sao cho chênh lệch giữa lãi suất danh nghĩa và lạm phát vẫn ở mức dương vừa phải nhưng tương thích với lạm phát.

Chẳng hạn, mức lạm phát được Quốc hội thông qua cho năm 2023 là 4,5%, tức là chênh lệch sẽ khoảng 2-3%, thì lãi suất huy động bình quân của Việt Nam dự báo ở mức 6,5-7,5% là hợp lý. Tóm lại, lãi suất có thể xuống thấp.

Nhìn chung, thị trường tài chính Việt Nam đang có dấu hiệu lắng dịu trở lại trên nền sóng gió. Năm 2023, điều Việt Nam cần quan tâm, theo dõi và dự báo là những tác động từ bên ngoài.

Theo đó, năm nay, tình hình được dự báo vẫn còn khó khăn khi tăng trưởng toàn cầu được dự báo giảm xuống 2,6% nhưng lạm phát thế giới vẫn ở mức trên 5% (5,3-5,7%). . Với lạm phát thế giới thấp hơn, điều hành kinh tế vĩ mô của Việt Nam sẽ thuận lợi hơn. Giá trị sức mua nội địa ở các nước nói chung không mất giá nhiều thì khả năng xuất khẩu của Việt Nam sẽ dễ dàng hơn.

Nhìn lại năm 2022, có thể thấy thị trường tài chính Việt Nam còn nhiều vấn đề cần khắc phục về thể chế, đặc biệt là cơ chế giám sát cần được hoàn thiện. Mô hình hiện nay ở Việt Nam - nhà hoạch định chính sách đồng thời là người theo dõi thị trường - dường như không còn phù hợp.

Điều này cần được xem xét một cách thận trọng, nghiêm túc và kịp thời, kể cả đối với thị trường vốn và thị trường tiền tệ. Khung pháp lý, các quy định pháp luật và cơ chế giám sát cần được điều chỉnh theo hướng khoa học và thực tiễn hơn.

PV: Xin cảm ơn ông!

SSI: Tỷ giá liên ngân hàng giảm về 23.450 VND/USD có thể kích hoạt hoạt động bán USD từ các ngân hàng thương mại.

SSI: Tỷ giá liên ngân hàng giảm về 23.450 VND/USD có thể kích hoạt hoạt động bán USD từ các ngân hàng thương mại.

09-01-2023

Mirae Asset: Chính sách tiền tệ sẽ tiếp tục thắt chặt trong nửa đầu năm 2023, VND mất giá cầm chừng

03-01-2023

UOB: Đà tăng vừa qua của VND có thể không kéo dài

Phương Nga


Theo TS Trương Văn Phước, nguyên Quyền Chủ tịch Ủy ban Giám sát tài chính Quốc gia, sau một thời gian trồi sụt khó khăn, thị trường tài chính Việt Nam đang có dấu hiệu “trời yên biển lặng” trở lại trên nền của nhiều bất ổn.

TS Trương Văn Phước, nguyên Quyền Chủ tịch Ủy ban Giám sát tài chính Quốc gia. (Tấm ảnh: Hội nghị).

Phóng viên: Theo ông, các ngân hàng trung ương trên thế giới gặp khó khăn gì trong điều hành chính sách tiền tệ năm 2022?

TS Trương Văn Phước: Năm 2022, kinh tế thế giới sẽ rơi vào giai đoạn cực kỳ khó khăn. Đó là hậu quả của COVID-19, của sự gián đoạn chuỗi cung ứng. Các nước trên thế giới tin rằng việc đưa ra các gói hỗ trợ tiền tệ khổng lồ sẽ giúp người dân và doanh nghiệp vượt qua khó khăn, nhưng nhiều yếu tố vượt quá mong đợi.

Giữa tháng 2/2022, xung đột Nga-Ukraine diễn ra không chỉ về quân sự mà cả về kinh tế, tài chính, tiền tệ. Nó làm trầm trọng thêm tình trạng đứt gãy chuỗi cung ứng, trong đó có nguồn cung lương thực bởi Nga và Ukraine là những nước sản xuất nông nghiệp, cung cấp nguồn lương thực tương đối lớn.

Tiếp theo là các biện pháp trừng phạt của Mỹ và châu Âu đối với Nga, và phản ứng của Nga đối với khí đốt đã tạo ra một cuộc khủng hoảng năng lượng. Các gói hỗ trợ tiền tệ từng có quy mô quá lớn hiện đang đối mặt với nhiều bất ổn khiến lạm phát bùng nổ ở hầu hết các quốc gia trên thế giới.

Theo đó, các ngân hàng trung ương (NHTW) phải đáp trả bằng chính sách tiền tệ, thông qua việc tăng nhanh lãi suất. Việc Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) tăng lãi suất lên trên 4% mới đây đã tạo ra bước ngoặt mới trên thị trường tiền tệ quốc tế khi dòng vốn quay trở lại Mỹ để hưởng lợi suất trái phiếu tốt. và tỷ giá USD cao hơn.

Một cuộc chiến tranh tiền tệ giữa USD với các đồng tiền khác trên thế giới đã nổ ra và trên thực tế USD đã chiến thắng với lợi thế truyền thống về tỷ giá và lãi suất. Đối với Việt Nam, nhà điều hành đã thực hiện chính sách “lò đá qua sông”. Lần mò từng bước “lắng nghe” tác động của xung đột quân sự, gián đoạn chuỗi cung ứng, lạm phát, giá năng lượng tăng cao, lãi suất thế giới tăng, USD tăng

PV: Các đồng tiền chủ chốt trên thế giới đều mất giá mạnh so với USD trong khi VND mất giá ít hơn nhiều. Lý do là gì thưa ông?

TS Trương Văn Phước: Ở các nước khác, việc phá giá đồng nội tệ có thể nói là xuất phát từ bất ổn kinh tế vĩ mô do lạm phát cao, cán cân thanh toán mất cân đối, đặc biệt là thiếu năng lượng và lương thực.

Trong khi đó, ở Việt Nam, các chỉ số kinh tế vĩ mô những tháng đầu năm khá tốt, lạm phát bình quân còn thấp nên việc sử dụng các công cụ chính sách tiền tệ để kiểm soát lạm phát còn ở mức nhỏ. Ở góc độ thị trường, chúng ta có dự trữ ngoại tệ lớn và đã được sử dụng để can thiệp thị trường, trong khi dòng vốn nước ngoài vẫn vào, cả trực tiếp và gián tiếp, cán cân thương mại hiện nay đang xuất khẩu. siêu.

Quan hệ cung cầu USD đảm bảo cho chúng ta có một USD không tăng giá nhiều so với VND. Nguyên nhân khiến USD tăng giá so với VND không phải do yếu tố cơ bản của Việt Nam, mà do sức hút của USD quá lớn khi thế giới có bất ổn. Có thể nói, tỷ giá và lãi suất VND khá ổn định trong 9 tháng đầu năm 2022.

Nguyên nhân có thể do lãi suất của VND trong thời gian này khá cao so với các ngoại tệ khác, đặc biệt là USD. Nhưng đến tháng 10/2022, việc Chính phủ xử lý vi phạm trên thị trường trái phiếu doanh nghiệp đã tác động đến tâm lý nhà đầu tư trên thị trường.

Cùng với đó, đà tăng của đồng USD đạt đỉnh khiến lãi suất và tỷ giá tại Việt Nam biến động. Để đối phó và xoa dịu những biến động này, NHNN đã tăng lãi suất điều hành thêm 2%, đồng thời mở rộng biên độ mua bán của tỷ giá từ (+/-) 3% lên (+/-) 5%.

PV: Trong bối cảnh lạm phát toàn cầu tăng cao và đồng USD tăng giá mạnh, NHNN đã hai lần tăng lãi suất điều hành để giữ giá VND. Bạn đánh giá thế nào về động thái này?

TS Trương Văn Phước: Các NHTW trên thế giới điều chỉnh lãi suất với 3 mục tiêu chính. Thứ nhất, khi lãi suất tăng, giá tiền tăng và cầu giảm. Điều này giúp thực hiện mong muốn giảm nhu cầu tín dụng ở các quốc gia có lạm phát cao.

Thứ hai, hạ nhiệt thị trường lao động đang cực nóng. Bởi lẽ, sau đại dịch COVID-19, các quốc gia từng áp dụng biện pháp tăng lương để kéo lao động, chống lạm phát đã rơi vào thế khó.

Tức là giá cả tăng khiến lương tăng, lương tăng khiến giá cả tăng. Thứ ba, tăng lãi suất cuối cùng làm cho đồng nội tệ tăng giá. Hay nói một cách đơn giản, việc tăng lãi suất khiến tỷ giá hối đoái giảm. Hiện nay, lãi suất danh nghĩa trừ đi lạm phát kỳ vọng, lãi suất thực dương của Việt Nam vẫn ở mức rất cao.

Trong khi đó, nếu Mỹ tăng lãi suất mà NHNN vẫn để trần lãi suất huy động kỳ hạn 6 tháng ở mức 4%/năm thì cũng “không ổn”. Trong năm 2022, NHNN đã 2 lần tăng lãi suất điều hành, mỗi lần 1 điểm phần trăm, đây có thể nói là mức tăng rất lớn.

Bên cạnh đó, NHNN cũng nới biên độ tỷ giá từ 3% lên 5%. Tỷ giá thị trường có lúc tăng gần 10% so với tỷ giá ngân hàng. Trong bối cảnh đồng USD tăng giá mạnh, chắc chắn NHNN không thể “ngồi yên”. Vì vậy, cách hành xử của NHNN có thể chấp nhận được trong bối cảnh biến động linh hoạt. Việt Nam chưa rối loạn nhưng đã có những phản ứng tương đối mạnh, dù chỉ trong một thời gian ngắn.

PV: Theo nhiều chuyên gia, áp lực tỷ giá vẫn hiện hữu. Ông dự báo thế nào về tỷ giá và lãi suất của Việt Nam trong năm 2023?

TS Trương Văn Phước: Năm 2023, kinh tế thế giới đứng trước bờ vực suy thoái, bởi chính sách chống lạm phát bằng cách tăng lãi suất quá cao sẽ có tác dụng phụ, mà theo kinh tế học là suy thoái. Vì vậy, khi lạm phát đạt đỉnh và đang đi xuống, các ngân hàng trung ương phải tính phương án giảm liều “vắc xin” tiêm vào nền kinh tế.

Đó là lý do tại sao ngày 14/12/2022 Fed chỉ tăng 50 điểm cơ bản so với kế hoạch 75 điểm trước đó, đưa lãi suất điều hành lên 4,25 – 4,5%. Có thể quý I/2023 tăng chút đỉnh nhưng sẽ dừng ở mức 5% và sẽ đảo chiều sau đó.

Vào năm 2023, các ngân hàng trung ương muốn đưa lãi suất thực về trạng thái cân bằng, không dương cũng không âm. Hiện nay, ở hầu hết các nước trên thế giới, lãi suất thực (lãi suất đã trừ lạm phát) đều âm, nghĩa là lạm phát cao nhưng lãi suất thấp.

Ở Việt Nam thì ngược lại, lạm phát thấp và lãi suất cao. Lãi suất huy động tại các ngân hàng Việt Nam khoảng 8-9%/năm, so với lạm phát 4%, như vậy lãi suất thực ở Việt Nam là dương. Lợi thế của chúng ta hiện nay là có thể hạ lãi suất sao cho chênh lệch giữa lãi suất danh nghĩa và lạm phát vẫn ở mức dương vừa phải nhưng tương thích với lạm phát.

Chẳng hạn, mức lạm phát được Quốc hội thông qua cho năm 2023 là 4,5%, tức là chênh lệch sẽ khoảng 2-3%, thì lãi suất huy động bình quân của Việt Nam dự báo ở mức 6,5-7,5% là hợp lý. Tóm lại, lãi suất có thể xuống thấp.

Nhìn chung, thị trường tài chính Việt Nam đang có dấu hiệu lắng dịu trở lại trên nền sóng gió. Năm 2023, điều Việt Nam cần quan tâm, theo dõi và dự báo là những tác động từ bên ngoài.

Theo đó, năm nay, tình hình được dự báo vẫn còn khó khăn khi tăng trưởng toàn cầu được dự báo giảm xuống 2,6% nhưng lạm phát thế giới vẫn ở mức trên 5% (5,3-5,7%). . Với lạm phát thế giới thấp hơn, điều hành kinh tế vĩ mô của Việt Nam sẽ thuận lợi hơn. Giá trị sức mua nội địa ở các nước nói chung không mất giá nhiều thì khả năng xuất khẩu của Việt Nam sẽ dễ dàng hơn.

Nhìn lại năm 2022, có thể thấy thị trường tài chính Việt Nam còn nhiều vấn đề cần khắc phục về thể chế, đặc biệt là cơ chế giám sát cần được hoàn thiện. Mô hình hiện nay ở Việt Nam – nhà hoạch định chính sách đồng thời là người theo dõi thị trường – dường như không còn phù hợp.

Điều này cần được xem xét một cách thận trọng, nghiêm túc và kịp thời, kể cả đối với thị trường vốn và thị trường tiền tệ. Khung pháp lý, các quy định pháp luật và cơ chế giám sát cần được điều chỉnh theo hướng khoa học và thực tiễn hơn.

PV: Xin cảm ơn ông!

SSI: Tỷ giá liên ngân hàng giảm về 23.450 VND/USD có thể kích hoạt hoạt động bán USD từ các ngân hàng thương mại.

SSI: Tỷ giá liên ngân hàng giảm về 23.450 VND/USD có thể kích hoạt hoạt động bán USD từ các ngân hàng thương mại.

09-01-2023

Mirae Asset: Chính sách tiền tệ sẽ tiếp tục thắt chặt trong nửa đầu năm 2023, VND mất giá cầm chừng

03-01-2023

UOB: Đà tăng vừa qua của VND có thể không kéo dài

Phương Nga

#Thị #trường #Tài #chính #Việt #Nam #đang #có #dấu #hiệu #039trời #yên #biển #lặng039 #trở #lại

[rule_3_plain]

#Thị #trường #Tài #chính #Việt #Nam #đang #có #dấu #hiệu #039trời #yên #biển #lặng039 #trở #lại

Theo TS. Trương Văn Phước, nguyên Quyền Chủ tịch Uỷ ban Giám sát tài chính quốc gia, sau một giai đoạn đầy biến động khó khăn, thị trường tài chính Việt Nam đang có dấu hiệu “trời yên biển lặng” trở lại trên nền xung động.

 TS. Trương Văn Phước, nguyên Quyền Chủ tịch Uỷ ban Giám sát tài chính quốc gia. (Ảnh: Quốc hội).

PV: Theo ông các ngân hàng trung ương trên thế giới đã phải đối diện với những khó khăn gì trong điều hành chính sách tiền tệ năm 2022?
TS. Trương Văn Phước: Năm 2022, kinh tế thế giới rơi vào giai đoạn cực kỳ khó khăn. Đó là hậu quả của COVID-19, của sự đứt gãy chuỗi cung ứng. Các nước trên thế giới cho rằng việc đưa ra các gói hỗ trợ tiền tệ khổng lồ sẽ giúp cho người dân, doanh nghiệp vượt qua khó khăn nhưng nhiều nhân tố vượt ngoài dự đoán.
Giữa tháng 2/2022, xung đột Nga – Ukraine diễn ra không chỉ là về quân sự mà còn ảnh hưởng tới nhiều góc độ kinh tế, tài chính, tiền tệ. Nó làm trầm trọng hơn sự đứt gãy chuỗi cung ứng, trong đó có cung ứng về lương thực vì Nga, Ukraine là những quốc gia sản xuất nông nghiệp, cung cấp nguồn lương thực thực phẩm tương đối lớn.
Kế đến là các lệnh cấm vận của Mỹ và châu Âu đối với Nga, sự đáp trả của Nga về khí đốt tạo nên khủng hoảng năng lượng. Các gói hỗ trợ tiền tệ trước nay đang quá lớn giờ gặp phải nhiều bất trắc khiến lạm phát bùng lên ở hầu hết quốc gia trên thế giới.
Theo đó, các ngân hàng trung ương (NHTW) phải phản ứng bằng chính sách tiền tệ, thông qua việc tăng nhanh lãi suất. Việc Cục Dự trữ Liên Bang Mỹ (Fed) tăng dồn dập lãi suất lên đến trên 4% hiện nay đã tạo ra bước ngoặt mới trên thị trường tiền tệ quốc tế do các dòng vốn quay trở lại Mỹ để hưởng lợi suất trái phiếu tốt hơn và tỷ giá USD cao hơn.
Một cuộc chiến tiền tệ giữa đồng USD và các đồng tiền khác trên thế giới đã nổ ra và thực tế phần thắng thuộc về đồng USD với lợi thế truyền thống của nó là tỷ giá và lãi suất. Đối với Việt Nam, nhà điều hành đã thực hiện chính sách “dò đá qua sông”. Dò dẫm từng bước để “lắng nghe” tác động từ xung đột quân sự, đứt gãy chuỗi cung ứng, lạm phát, giá năng lượng tăng cao, lãi suất thế giới tăng, USD tăng
PV: Các đồng tiền lớn trên thế giới đều mất giá mạnh so với USD trong khi VND mất giá ít hơn nhiều. Nguyên nhân là gì thưa ông?
TS. Trương Văn Phước: Tại các nước, đồng nội tệ của họ mất giá có thể nói bắt nguồn từ việc kinh tế vĩ mô của họ chưa ổn do lạm phát cao, mất cân đối trên cán cân thanh toán, đặc biệt là các tình trạng khan hiếm năng lượng, lương thực.
Trong khi đó tại Việt Nam các chỉ số vĩ mô các tháng đầu năm khá tốt, lạm phát bình quân vẫn ở mức thấp, do đó việc sử dụng công cụ chính sách tiền tệ để kiềm chế lạm phát vẫn ở mức độ nhỏ. Dưới góc độ thị trường, chúng ta có dự trữ ngoại tệ lớn và đã được sử dụng để can thiệp vào thị trường, đồng thời dòng vốn nước ngoài vẫn vào kể cả trực tiếp và gián tiếp, cán cân thương mại hiện tại là xuất siêu.
Quan hệ cung cầu USD đảm bảo cho chúng ta có một đồng USD tăng giá không nhiều so với tiền VND. Sở dĩ USD tăng giá so với VND không phải do các yếu tố cơ bản của Việt Nam mà là do sức hút của đồng USD quá lớn khi bất ổn trên thế giới xảy ra. Có thể nói tỷ giá và lãi suất VND là khá ổn định trong 9 tháng đầu năm 2022.
Lý do có thể là lãi suất của đồng Việt Nam trong giai đoạn này là khá cao trong tương quan với các đồng tiền khác, nhất là USD. Nhưng tới tháng 10/2022, việc Chính phủ xử lý các vi phạm trên thị trường trái phiếu doanh nghiệp đã ảnh hưởng đến tâm lý của các nhà đầu tư trên thị trường.
Cùng với đó, đà tăng của đồng USD lên tới đỉnh điểm đã khiến lãi suất và tỷ giá của Việt Nam bắt đầu có biến động. Để ứng phó và làm dịu bớt các biến động này, NHNN đã tăng lãi suất điều hành khoảng 2%, đồng thời mở rộng biên độ giao dịch của tỷ giá hối đoái từ (+/-) 3% lên (+/-) 5%.

 

PV: Trong bối cảnh lạm phát toàn cầu tăng cao và đồng USD tăng giá mạnh, NHNN đã hai lần nâng lãi suất điều hành để giữ giá tiền đồng. Ông đánh giá như thế nào về động thái này?
TS. Trương Văn Phước: Các ngân hàng trung ương trên thế giới điều chỉnh tăng lãi suất với ba mục tiêu chính. Thứ nhất, khi lãi suất tăng lên, tức giá tiền tệ tăng lên thì cầu giảm. Điều này giúp thực hiện mong muốn hạ bớt cầu về tín dụng ở các quốc gia đang có lạm phát cao.
Thứ hai, làm dịu bớt thị trường lao động hết sức nóng. Bởi lẽ, sau đại dịch COVID-19, các nước sử dụng biện pháp tăng tiền lương để kéo lao động, đồng thời chống được lạm phát thì lại rơi vào một hiệu ứng nan giải.
Đó là, giá tăng khiến tiền lương tăng, tiền lương tăng làm cho giá tăng. Thứ ba, tăng lãi suất suy cho cùng là làm cho đồng nội tệ tăng lên. Hay hiểu đơn giản, tăng lãi suất làm cho tỷ giá giảm xuống. Hiện tại, lãi suất danh nghĩa trừ đi lạm phát kỳ vọng thì ra lãi suất thực dương của Việt Nam vẫn rất cao.
Trong khi đó, nếu Mỹ tăng lãi suất mà NHNN vẫn để trần lãi suất huy động 6 tháng ở mức 4%/năm thì sẽ “không ổn”. Trong năm 2022, NHNN đã tăng lãi suất điều hành lên hai lần mỗi lần là 1 điểm %, có thể nói đây là mức tăng rất lớn.
Bên cạnh đó, NHNN cũng mở rộng biên độ tỷ giá từ 3% lên 5%. Tỷ giá của thị trường đã có lúc tăng gần 10% so với tỷ giá ngân hàng. Trong bối cảnh đồng USD tăng giá quá mạnh, chắc chắn NHNN không thể “ngồi yên”. Do đó, ứng xử của NHNN là chấp nhận được trước bối cảnh biến động linh hoạt. Việt Nam chưa phải rối loạn nhưng đã có những phản ứng tương đối mạnh, dù chỉ diễn ra trong thời gian ngắn.
PV: Theo nhận định của nhiều chuyên gia áp lực tỷ giá vẫn còn hiện hữu. Ông dự báo ra sao về diễn biến tỷ giá, lãi suất của Việt Nam trong năm 2023?
TS. Trương Văn Phước: Sang năm 2023, kinh tế thế giới đứng trên bờ vực của suy thoái, bởi chính sách chống lạm phát bằng cách tăng lãi suất lên quá cao sẽ có những hiệu ứng phụ, mà theo kinh tế học chính là suy thoái. Do đó, khi lạm phát đạt đỉnh và đang đi xuống thì các NHTW phải tính phương án giảm bớt liều lượng “vắc xin” tiêm vào nền kinh tế.
Đó là lý do vì sao ngày 14/12/2022 Fed chỉ tăng 50 điểm cơ bản so với mức kế hoạch trước đó là 75 điểm đưa mức lãi suất điều hành lên 4,25 – 4,5%. Có thể quý I/2023 sẽ tăng thêm một chút nhưng sẽ dừng lại ở mức 5% và sẽ đảo chiều sau đó.
Trong năm 2023, các NHTW mong muốn sẽ đưa lãi suất thực tới vùng cân bằng, không dương không âm. Hiện nay ở phần lớn các nước trên thế giới, lãi suất thực (lãi suất trừ đi lạm phát) đang âm, nghĩa là lạm phát cao mà lãi suất lại thấp.
Ở Việt Nam thì ngược lại, lạm phát thấp và lãi suất cao. Lãi suất huy động tại các ngân hàng Việt khoảng 8-9%/năm, so với lạm phát 4% nên lãi suất thực tại Việt Nam là dương. Lợi thế của chúng ta lúc này là có thể làm cho lãi suất thấp xuống sao cho chênh lệch giữa lãi suất danh nghĩa và lạm phát vẫn ở mức dương vừa phải nhưng phải tương thích với lạm phát. 
Ví dụ mức lạm phát mà Quốc hội thông qua cho năm 2023 là 4,5%, tức chênh lệch sẽ rơi vào khoảng 2-3%, thì lãi suất huy động bình quân của Việt Nam dự báo ở mức 6,5-7,5% là hợp lý. Tóm lại, lãi suất có thể thấp xuống.

 

Nhìn chung, thị trường tài chính Việt Nam đang có những dấu hiệu trời yên biển lặng trở lại trên nền xung động. Năm 2023, điều Việt Nam cần phải quan tâm, theo dõi, dự báo là những tác động bên ngoài. 
Theo đó, năm nay, tình hình được dự báo vẫn khó khăn khi tăng trưởng toàn cầu dự báo giảm xuống còn 2,6% nhưng lạm phát của thế giới sẽ ở mức trên 5% (5,3- 5,7%). Với mức lạm phát thế giới thấp xuống, điều hành kinh tế vĩ mô của Việt Nam sẽ thuận lợi hơn. Giá trị của sức mua đối nội ở các quốc gia nói chung không mất giá nhiều, khả năng xuất khẩu của Việt Nam sẽ dễ hơn.
Nhìn lại năm 2022, có thể thấy thị trường tài chính Việt Nam còn nhiều vấn đề cần khắc phục trong thể chế, đặc biệt cơ chế giám sát cần được hoàn thiện. Mô hình hiện nay tại Việt Nam – người làm chính sách cũng là người giám sát thị trường – dường như không còn phù hợp.
Điều này cần phải được xem lại một cách thận trọng, nghiêm túc và kịp thời, kể cả với thị trường vốn và thị trường tiền tệ. Khuôn khổ pháp lý, quy phạm pháp luật và cơ chế giám sát nên được điều chỉnh một cách khoa học và thực tiễn hơn.
PV: Xin cảm ơn ông!

SSI: Tỷ giá liên ngân hàng đã giảm về vùng 23.450 VND/USD, có thể kích hoạt việc bán USD từ khối NHTM

09-01-2023

Mirae Asset: Chính sách tiền tệ sẽ tiếp tục thắt chặt trong nửa đầu năm 2023, VND sẽ mất giá vừa phải

03-01-2023

UOB: Sự phục hồi gần đây của VND có thể không kéo dài

Phương Nga

Theo Doanh Nghiệp & Kinh Doanh

Link bài gốc
https://doanhnghiepkinhdoanh.doanhnhanvn.vn/thi-truong-tai-chinh-viet-nam-dang-co-dau-hieu-troi-yen-bien-lang-tro-lai-422023117102515582.htm

#Thị #trường #Tài #chính #Việt #Nam #đang #có #dấu #hiệu #039trời #yên #biển #lặng039 #trở #lại

[rule_2_plain]

#Thị #trường #Tài #chính #Việt #Nam #đang #có #dấu #hiệu #039trời #yên #biển #lặng039 #trở #lại

[rule_2_plain]

#Thị #trường #Tài #chính #Việt #Nam #đang #có #dấu #hiệu #039trời #yên #biển #lặng039 #trở #lại

[rule_3_plain]

#Thị #trường #Tài #chính #Việt #Nam #đang #có #dấu #hiệu #039trời #yên #biển #lặng039 #trở #lại

Theo TS. Trương Văn Phước, nguyên Quyền Chủ tịch Uỷ ban Giám sát tài chính quốc gia, sau một giai đoạn đầy biến động khó khăn, thị trường tài chính Việt Nam đang có dấu hiệu “trời yên biển lặng” trở lại trên nền xung động.

 TS. Trương Văn Phước, nguyên Quyền Chủ tịch Uỷ ban Giám sát tài chính quốc gia. (Ảnh: Quốc hội).

PV: Theo ông các ngân hàng trung ương trên thế giới đã phải đối diện với những khó khăn gì trong điều hành chính sách tiền tệ năm 2022?
TS. Trương Văn Phước: Năm 2022, kinh tế thế giới rơi vào giai đoạn cực kỳ khó khăn. Đó là hậu quả của COVID-19, của sự đứt gãy chuỗi cung ứng. Các nước trên thế giới cho rằng việc đưa ra các gói hỗ trợ tiền tệ khổng lồ sẽ giúp cho người dân, doanh nghiệp vượt qua khó khăn nhưng nhiều nhân tố vượt ngoài dự đoán.
Giữa tháng 2/2022, xung đột Nga – Ukraine diễn ra không chỉ là về quân sự mà còn ảnh hưởng tới nhiều góc độ kinh tế, tài chính, tiền tệ. Nó làm trầm trọng hơn sự đứt gãy chuỗi cung ứng, trong đó có cung ứng về lương thực vì Nga, Ukraine là những quốc gia sản xuất nông nghiệp, cung cấp nguồn lương thực thực phẩm tương đối lớn.
Kế đến là các lệnh cấm vận của Mỹ và châu Âu đối với Nga, sự đáp trả của Nga về khí đốt tạo nên khủng hoảng năng lượng. Các gói hỗ trợ tiền tệ trước nay đang quá lớn giờ gặp phải nhiều bất trắc khiến lạm phát bùng lên ở hầu hết quốc gia trên thế giới.
Theo đó, các ngân hàng trung ương (NHTW) phải phản ứng bằng chính sách tiền tệ, thông qua việc tăng nhanh lãi suất. Việc Cục Dự trữ Liên Bang Mỹ (Fed) tăng dồn dập lãi suất lên đến trên 4% hiện nay đã tạo ra bước ngoặt mới trên thị trường tiền tệ quốc tế do các dòng vốn quay trở lại Mỹ để hưởng lợi suất trái phiếu tốt hơn và tỷ giá USD cao hơn.
Một cuộc chiến tiền tệ giữa đồng USD và các đồng tiền khác trên thế giới đã nổ ra và thực tế phần thắng thuộc về đồng USD với lợi thế truyền thống của nó là tỷ giá và lãi suất. Đối với Việt Nam, nhà điều hành đã thực hiện chính sách “dò đá qua sông”. Dò dẫm từng bước để “lắng nghe” tác động từ xung đột quân sự, đứt gãy chuỗi cung ứng, lạm phát, giá năng lượng tăng cao, lãi suất thế giới tăng, USD tăng
PV: Các đồng tiền lớn trên thế giới đều mất giá mạnh so với USD trong khi VND mất giá ít hơn nhiều. Nguyên nhân là gì thưa ông?
TS. Trương Văn Phước: Tại các nước, đồng nội tệ của họ mất giá có thể nói bắt nguồn từ việc kinh tế vĩ mô của họ chưa ổn do lạm phát cao, mất cân đối trên cán cân thanh toán, đặc biệt là các tình trạng khan hiếm năng lượng, lương thực.
Trong khi đó tại Việt Nam các chỉ số vĩ mô các tháng đầu năm khá tốt, lạm phát bình quân vẫn ở mức thấp, do đó việc sử dụng công cụ chính sách tiền tệ để kiềm chế lạm phát vẫn ở mức độ nhỏ. Dưới góc độ thị trường, chúng ta có dự trữ ngoại tệ lớn và đã được sử dụng để can thiệp vào thị trường, đồng thời dòng vốn nước ngoài vẫn vào kể cả trực tiếp và gián tiếp, cán cân thương mại hiện tại là xuất siêu.
Quan hệ cung cầu USD đảm bảo cho chúng ta có một đồng USD tăng giá không nhiều so với tiền VND. Sở dĩ USD tăng giá so với VND không phải do các yếu tố cơ bản của Việt Nam mà là do sức hút của đồng USD quá lớn khi bất ổn trên thế giới xảy ra. Có thể nói tỷ giá và lãi suất VND là khá ổn định trong 9 tháng đầu năm 2022.
Lý do có thể là lãi suất của đồng Việt Nam trong giai đoạn này là khá cao trong tương quan với các đồng tiền khác, nhất là USD. Nhưng tới tháng 10/2022, việc Chính phủ xử lý các vi phạm trên thị trường trái phiếu doanh nghiệp đã ảnh hưởng đến tâm lý của các nhà đầu tư trên thị trường.
Cùng với đó, đà tăng của đồng USD lên tới đỉnh điểm đã khiến lãi suất và tỷ giá của Việt Nam bắt đầu có biến động. Để ứng phó và làm dịu bớt các biến động này, NHNN đã tăng lãi suất điều hành khoảng 2%, đồng thời mở rộng biên độ giao dịch của tỷ giá hối đoái từ (+/-) 3% lên (+/-) 5%.

 

PV: Trong bối cảnh lạm phát toàn cầu tăng cao và đồng USD tăng giá mạnh, NHNN đã hai lần nâng lãi suất điều hành để giữ giá tiền đồng. Ông đánh giá như thế nào về động thái này?
TS. Trương Văn Phước: Các ngân hàng trung ương trên thế giới điều chỉnh tăng lãi suất với ba mục tiêu chính. Thứ nhất, khi lãi suất tăng lên, tức giá tiền tệ tăng lên thì cầu giảm. Điều này giúp thực hiện mong muốn hạ bớt cầu về tín dụng ở các quốc gia đang có lạm phát cao.
Thứ hai, làm dịu bớt thị trường lao động hết sức nóng. Bởi lẽ, sau đại dịch COVID-19, các nước sử dụng biện pháp tăng tiền lương để kéo lao động, đồng thời chống được lạm phát thì lại rơi vào một hiệu ứng nan giải.
Đó là, giá tăng khiến tiền lương tăng, tiền lương tăng làm cho giá tăng. Thứ ba, tăng lãi suất suy cho cùng là làm cho đồng nội tệ tăng lên. Hay hiểu đơn giản, tăng lãi suất làm cho tỷ giá giảm xuống. Hiện tại, lãi suất danh nghĩa trừ đi lạm phát kỳ vọng thì ra lãi suất thực dương của Việt Nam vẫn rất cao.
Trong khi đó, nếu Mỹ tăng lãi suất mà NHNN vẫn để trần lãi suất huy động 6 tháng ở mức 4%/năm thì sẽ “không ổn”. Trong năm 2022, NHNN đã tăng lãi suất điều hành lên hai lần mỗi lần là 1 điểm %, có thể nói đây là mức tăng rất lớn.
Bên cạnh đó, NHNN cũng mở rộng biên độ tỷ giá từ 3% lên 5%. Tỷ giá của thị trường đã có lúc tăng gần 10% so với tỷ giá ngân hàng. Trong bối cảnh đồng USD tăng giá quá mạnh, chắc chắn NHNN không thể “ngồi yên”. Do đó, ứng xử của NHNN là chấp nhận được trước bối cảnh biến động linh hoạt. Việt Nam chưa phải rối loạn nhưng đã có những phản ứng tương đối mạnh, dù chỉ diễn ra trong thời gian ngắn.
PV: Theo nhận định của nhiều chuyên gia áp lực tỷ giá vẫn còn hiện hữu. Ông dự báo ra sao về diễn biến tỷ giá, lãi suất của Việt Nam trong năm 2023?
TS. Trương Văn Phước: Sang năm 2023, kinh tế thế giới đứng trên bờ vực của suy thoái, bởi chính sách chống lạm phát bằng cách tăng lãi suất lên quá cao sẽ có những hiệu ứng phụ, mà theo kinh tế học chính là suy thoái. Do đó, khi lạm phát đạt đỉnh và đang đi xuống thì các NHTW phải tính phương án giảm bớt liều lượng “vắc xin” tiêm vào nền kinh tế.
Đó là lý do vì sao ngày 14/12/2022 Fed chỉ tăng 50 điểm cơ bản so với mức kế hoạch trước đó là 75 điểm đưa mức lãi suất điều hành lên 4,25 – 4,5%. Có thể quý I/2023 sẽ tăng thêm một chút nhưng sẽ dừng lại ở mức 5% và sẽ đảo chiều sau đó.
Trong năm 2023, các NHTW mong muốn sẽ đưa lãi suất thực tới vùng cân bằng, không dương không âm. Hiện nay ở phần lớn các nước trên thế giới, lãi suất thực (lãi suất trừ đi lạm phát) đang âm, nghĩa là lạm phát cao mà lãi suất lại thấp.
Ở Việt Nam thì ngược lại, lạm phát thấp và lãi suất cao. Lãi suất huy động tại các ngân hàng Việt khoảng 8-9%/năm, so với lạm phát 4% nên lãi suất thực tại Việt Nam là dương. Lợi thế của chúng ta lúc này là có thể làm cho lãi suất thấp xuống sao cho chênh lệch giữa lãi suất danh nghĩa và lạm phát vẫn ở mức dương vừa phải nhưng phải tương thích với lạm phát. 
Ví dụ mức lạm phát mà Quốc hội thông qua cho năm 2023 là 4,5%, tức chênh lệch sẽ rơi vào khoảng 2-3%, thì lãi suất huy động bình quân của Việt Nam dự báo ở mức 6,5-7,5% là hợp lý. Tóm lại, lãi suất có thể thấp xuống.

 

Nhìn chung, thị trường tài chính Việt Nam đang có những dấu hiệu trời yên biển lặng trở lại trên nền xung động. Năm 2023, điều Việt Nam cần phải quan tâm, theo dõi, dự báo là những tác động bên ngoài. 
Theo đó, năm nay, tình hình được dự báo vẫn khó khăn khi tăng trưởng toàn cầu dự báo giảm xuống còn 2,6% nhưng lạm phát của thế giới sẽ ở mức trên 5% (5,3- 5,7%). Với mức lạm phát thế giới thấp xuống, điều hành kinh tế vĩ mô của Việt Nam sẽ thuận lợi hơn. Giá trị của sức mua đối nội ở các quốc gia nói chung không mất giá nhiều, khả năng xuất khẩu của Việt Nam sẽ dễ hơn.
Nhìn lại năm 2022, có thể thấy thị trường tài chính Việt Nam còn nhiều vấn đề cần khắc phục trong thể chế, đặc biệt cơ chế giám sát cần được hoàn thiện. Mô hình hiện nay tại Việt Nam – người làm chính sách cũng là người giám sát thị trường – dường như không còn phù hợp.
Điều này cần phải được xem lại một cách thận trọng, nghiêm túc và kịp thời, kể cả với thị trường vốn và thị trường tiền tệ. Khuôn khổ pháp lý, quy phạm pháp luật và cơ chế giám sát nên được điều chỉnh một cách khoa học và thực tiễn hơn.
PV: Xin cảm ơn ông!

SSI: Tỷ giá liên ngân hàng đã giảm về vùng 23.450 VND/USD, có thể kích hoạt việc bán USD từ khối NHTM

09-01-2023

Mirae Asset: Chính sách tiền tệ sẽ tiếp tục thắt chặt trong nửa đầu năm 2023, VND sẽ mất giá vừa phải

03-01-2023

UOB: Sự phục hồi gần đây của VND có thể không kéo dài

Phương Nga

Theo Doanh Nghiệp & Kinh Doanh

Link bài gốc
https://doanhnghiepkinhdoanh.doanhnhanvn.vn/thi-truong-tai-chinh-viet-nam-dang-co-dau-hieu-troi-yen-bien-lang-tro-lai-422023117102515582.htm

Nguồn: besttaichinh.com

#Thị #trường #Tài #chính #Việt #Nam #đang #có #dấu #hiệu #039trời #yên #biển #lặng039 #trở #lại

Xem thêm thông tin hay:  Cách tính lãi suất vay ngân hàng VIB 2022 chuẩn xác nhất

Viết một bình luận