Ngân hàng vẫn là tay chơi lớn nhưng tương lai thuộc về dòng vốn khác

Có phải bạn đang tìm kiếm chủ đề về => Ngân hàng vẫn là tay chơi lớn nhưng tương lai thuộc về dòng vốn khác phải không? Nếu đúng như vậy thì mời bạn xem nó ngay tại đây. Xem thêm các tin tài chính khác tại đây => Tài chính

Không chỉ dẫn đầu về lượng phát hành, các ngân hàng còn là những người chơi lớn nhất trên thị trường trái phiếu.

Theo số liệu của Chính phủ, trong giai đoạn 2016-2021, quy mô thị trường vốn tăng trưởng bình quân 28,5% / năm. Hiện quy mô thị trường vốn đạt 134,5% GDP vào năm 2021, gấp 3,5 lần quy mô năm 2015. Trong đó, quy mô thị trường chứng khoán tương đương 93,8% GDP; quy mô thị trường trái phiếu đạt 39,7% GDP.

Cụ thể hơn, theo Hiệp hội Trái phiếu Việt Nam (VMBA), nếu xét riêng quy mô của kênh trái phiếu doanh nghiệp, tổng khối lượng phát hành năm 2021 sẽ đạt xấp xỉ 660.000 tỷ đồng, tương đương hơn 10%. GDP. Trong khi năm 2012, tỷ lệ này chỉ là 2%.

Trên thị trường chứng khoán, nếu như những năm trước, giá trị giao dịch cổ phiếu trên thị trường dao động quanh mức 5.000 – 7.000 tỷ đồng / phiên thì nay con số này đã tăng gấp 4 – 5 lần, những phiên giao dịch tỷ USD không còn quá xa lạ.

Số tài khoản mở mới liên tiếp cũng đạt mức kỷ lục, khi có hơn 270.000 tài khoản cá nhân được lập trong tháng 3 (mức cao nhất từ ​​trước đến nay), nâng tổng số tài khoản nhà đầu tư trong nước lên hơn 4,93 triệu, tương đương 5%. của toàn dân Việt Nam.

Nếu so với quy mô tín dụng hơn 11,1 triệu tỷ đồng (tính đến cuối tháng 4), nhu cầu tín dụng hàng năm lên tới hơn một triệu tỷ đồng của toàn nền kinh tế thì quy mô của hai kênh huy động vốn trên vẫn có thể được nói ở mức độ khiêm tốn.

Tuy nhiên, sự phát triển vẫn có thể nói là một tín hiệu tích cực cho nền kinh tế khi hệ thống vốn của Việt Nam lâu nay vẫn được coi là đặt nặng lên vai của hệ thống ngân hàng.

Ngân hàng là kênh dẫn vốn chính của thị trường

Bên cạnh nhiệm vụ đơn thuần là cung cấp tín dụng, có thể thấy hệ thống ngân hàng đóng một vai trò không nhỏ trên thị trường vốn Việt Nam. Trên thị trường trái phiếu, tính chung năm 2021, nhóm ngân hàng chiếm 35% tổng giá trị phát hành trái phiếu doanh nghiệp toàn thị trường, tăng 128% so với năm trước và ngang bằng với nhóm bất động sản.

Tính riêng trong tháng 4, trước động thái siết hoạt động trái phiếu của các doanh nghiệp bất động sản, nhóm ngân hàng đã chiếm hơn 90% tổng giá trị phát hành. Thông qua kênh này, các tổ chức tín dụng có thể huy động vốn trung dài hạn, giúp việc cân đối vốn để cho vay doanh nghiệp và người dân thuận lợi hơn.

Không chỉ dẫn đầu về lượng phát hành, các ngân hàng còn là những người chơi lớn nhất trên thị trường trái phiếu. Cũng theo số liệu của VMBA, 29% nhà đầu tư sơ cấp vào trái phiếu doanh nghiệp là các tổ chức tín dụng. Trong khi đó, công ty chứng khoán chiếm 27%, nhà đầu tư cá nhân chuyên nghiệp chiếm 8,6%, công ty bảo hiểm và quỹ đầu tư chỉ chiếm dưới 2%.

So với các nước phát triển (theo số liệu của OECD), các công ty bảo hiểm, quỹ hưu trí và quỹ đầu tư chiếm thị phần lớn hơn trên thị trường trái phiếu doanh nghiệp. Các tổ chức tiền tệ được OECD liệt kê dưới đây bao gồm các ngân hàng trung ương.

Hoặc nếu so sánh với một nền kinh tế tương đương như Thái Lan, các nhà đầu tư cá nhân là những người nắm giữ nhiều nhất, chiếm 33% tổng số trái phiếu doanh nghiệp đang lưu hành. Các công ty bảo hiểm và quỹ hưu trí lần lượt chiếm 20% và 15%.

Chưa kể, một số công ty chứng khoán tại Việt Nam là công ty liên kết, công ty con của ngân hàng, hoạt động dựa trên nguồn tiền của ngân hàng.

Mặc dù phát triển với tốc độ nhanh nhưng quy mô thị trường trái phiếu Việt Nam chưa thực sự lớn. So với các nước trong khu vực, quy mô thị trường trái phiếu doanh nghiệp của Malaysia là 56% GDP, Singapore 36,5% GDP, Thái Lan 25% GDP…. Nếu không có sự tham gia của các ngân hàng, sự khập khiễng sẽ còn lớn hơn.

Cơ cấu trái phiếu công ty của các nước phát triển. (Nguồn: OECD).

Trên thị trường chứng khoán, cổ phiếu của các ngân hàng vẫn được mệnh danh là cổ phiếu “vua” vì giá trị vốn hóa chiếm 30% toàn thị trường. Trong nhóm VN30, top cổ phiếu có vốn hóa lớn nhất thị trường, có 10 cổ phiếu là cổ phiếu ngân hàng. Vietcombank đứng đầu danh sách với giá trị vốn hóa hơn 350.000 tỷ đồng, cao hơn 20% so với doanh nghiệp tư nhân đứng thứ 2 là Vingroup.

Do đó, bất kỳ biến động nào của nhóm cổ phiếu này đều có thể dẫn đến biến động lớn của VN-Index nói chung. So với thị trường chứng khoán thế giới, theo số liệu tổng hợp từ website Nhà giao dịch chứng khoán được giải phóng (tính đến cuối năm 2021), vốn hóa của nhóm cổ phiếu công nghệ thông tin chiếm tỷ trọng lớn nhất thế giới (16,3%), tiếp theo là Tài chính (15,8 %), Y tế và chăm sóc sức khỏe (12,6%), Công nghiệp nặng (11,2%).

Tìm kiếm sự cân bằng trên thị trường vốn

Ở các nước tài chính phát triển, nhu cầu vốn của doanh nghiệp được đảm bảo với ba trụ cột chính là chứng khoán, trái phiếu và tín dụng ngân hàng. Trong đó, các ngân hàng chỉ cung cấp vốn trong ngắn hạn, còn thị trường chứng khoán và thị trường trái phiếu là nơi các doanh nghiệp tìm kiếm nguồn vốn trong trung và dài hạn.

Những con số trên cho thấy, các ngân hàng đóng vai trò quan trọng trên thị trường vốn Việt Nam, góp phần thúc đẩy thanh khoản, các tổ chức tư vấn, bảo lãnh phát hành, cung cấp dịch vụ thanh toán,… thúc đẩy thị trường phát triển. “Thực trạng này đã và đang tạo ra áp lực và rủi ro lớn cho hệ thống tổ chức tín dụng khi nguồn vốn chủ yếu là ngắn hạn (tỷ trọng huy động vốn ngắn hạn chiếm khoảng 82% tổng huy động vốn)”, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước TP. được đề cập tại Hội thảo về thị trường vốn mới đây.

Dù đã tận dụng được các kênh huy động vốn dài hạn từ trái phiếu, trả cổ tức để tăng vốn, vay nước ngoài nhưng tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn của các tổ chức tín dụng vẫn có xu hướng tăng trong hai năm qua. Trong những năm gần đây, đặc biệt trong bối cảnh dịch bệnh, tiền gửi dài hạn có xu hướng mỏng dần. Áp lực này ngày càng gia tăng khi thị trường ngày càng đòi hỏi sự minh bạch hơn để bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tư.

Mặc dù vài năm trước, tăng trưởng tín dụng thấp hơn, chỉ khoảng 14% / năm so với mức trên 18% / năm như những năm trước, nhưng để giảm phụ thuộc vào kênh tín dụng, các kênh huy động vốn khác, đặc biệt là thị trường cổ phiếu, trái phiếu. kênh phải phát triển thực chất hơn. Thị trường vốn Việt Nam đang có những bước phát triển nhanh chóng về số lượng, có thể nói là thị trường phát triển nhanh nhất trong khu vực. Nhưng đồng thời cũng phải đảm bảo chất lượng và đi vào chiều sâu của thị trường.

Việt Nam có chậm chân trong cuộc chơi ngân hàng số?

Việt Nam có đang chậm trong cuộc chơi ngân sách hàn số?

24 tháng 6 năm 2022

Các ngân hàng lạc quan với lợi nhuận vào năm 2022

Lê Huy


Thông tin thêm

Ngân hàng vẫn là tay chơi lớn nhưng tương lai thuộc về dòng vốn khác

Không chỉ dẫn đầu về lượng phát hành, các ngân hàng còn là những người chơi lớn nhất trên thị trường trái phiếu.

Theo số liệu của Chính phủ, trong giai đoạn 2016-2021, quy mô thị trường vốn tăng trưởng bình quân 28,5% / năm. Hiện quy mô thị trường vốn đạt 134,5% GDP vào năm 2021, gấp 3,5 lần quy mô năm 2015. Trong đó, quy mô thị trường chứng khoán tương đương 93,8% GDP; quy mô thị trường trái phiếu đạt 39,7% GDP.

Cụ thể hơn, theo Hiệp hội Trái phiếu Việt Nam (VMBA), nếu xét riêng quy mô của kênh trái phiếu doanh nghiệp, tổng khối lượng phát hành năm 2021 sẽ đạt xấp xỉ 660.000 tỷ đồng, tương đương hơn 10%. GDP. Trong khi năm 2012, tỷ lệ này chỉ là 2%.

Trên thị trường chứng khoán, nếu như những năm trước, giá trị giao dịch cổ phiếu trên thị trường dao động quanh mức 5.000 - 7.000 tỷ đồng / phiên thì nay con số này đã tăng gấp 4 - 5 lần, những phiên giao dịch tỷ USD không còn quá xa lạ.

Số tài khoản mở mới liên tiếp cũng đạt mức kỷ lục, khi có hơn 270.000 tài khoản cá nhân được lập trong tháng 3 (mức cao nhất từ ​​trước đến nay), nâng tổng số tài khoản nhà đầu tư trong nước lên hơn 4,93 triệu, tương đương 5%. của toàn dân Việt Nam.

Nếu so với quy mô tín dụng hơn 11,1 triệu tỷ đồng (tính đến cuối tháng 4), nhu cầu tín dụng hàng năm lên tới hơn một triệu tỷ đồng của toàn nền kinh tế thì quy mô của hai kênh huy động vốn trên vẫn có thể được nói ở mức độ khiêm tốn.

Tuy nhiên, sự phát triển vẫn có thể nói là một tín hiệu tích cực cho nền kinh tế khi hệ thống vốn của Việt Nam lâu nay vẫn được coi là đặt nặng lên vai của hệ thống ngân hàng.

Ngân hàng là kênh dẫn vốn chính của thị trường

Bên cạnh nhiệm vụ đơn thuần là cung cấp tín dụng, có thể thấy hệ thống ngân hàng đóng một vai trò không nhỏ trên thị trường vốn Việt Nam. Trên thị trường trái phiếu, tính chung năm 2021, nhóm ngân hàng chiếm 35% tổng giá trị phát hành trái phiếu doanh nghiệp toàn thị trường, tăng 128% so với năm trước và ngang bằng với nhóm bất động sản.

Tính riêng trong tháng 4, trước động thái siết hoạt động trái phiếu của các doanh nghiệp bất động sản, nhóm ngân hàng đã chiếm hơn 90% tổng giá trị phát hành. Thông qua kênh này, các tổ chức tín dụng có thể huy động vốn trung dài hạn, giúp việc cân đối vốn để cho vay doanh nghiệp và người dân thuận lợi hơn.

Không chỉ dẫn đầu về lượng phát hành, các ngân hàng còn là những người chơi lớn nhất trên thị trường trái phiếu. Cũng theo số liệu của VMBA, 29% nhà đầu tư sơ cấp vào trái phiếu doanh nghiệp là các tổ chức tín dụng. Trong khi đó, công ty chứng khoán chiếm 27%, nhà đầu tư cá nhân chuyên nghiệp chiếm 8,6%, công ty bảo hiểm và quỹ đầu tư chỉ chiếm dưới 2%.

So với các nước phát triển (theo số liệu của OECD), các công ty bảo hiểm, quỹ hưu trí và quỹ đầu tư chiếm thị phần lớn hơn trên thị trường trái phiếu doanh nghiệp. Các tổ chức tiền tệ được OECD liệt kê dưới đây bao gồm các ngân hàng trung ương.

Hoặc nếu so sánh với một nền kinh tế tương đương như Thái Lan, các nhà đầu tư cá nhân là những người nắm giữ nhiều nhất, chiếm 33% tổng số trái phiếu doanh nghiệp đang lưu hành. Các công ty bảo hiểm và quỹ hưu trí lần lượt chiếm 20% và 15%.

Chưa kể, một số công ty chứng khoán tại Việt Nam là công ty liên kết, công ty con của ngân hàng, hoạt động dựa trên nguồn tiền của ngân hàng.

Mặc dù phát triển với tốc độ nhanh nhưng quy mô thị trường trái phiếu Việt Nam chưa thực sự lớn. So với các nước trong khu vực, quy mô thị trường trái phiếu doanh nghiệp của Malaysia là 56% GDP, Singapore 36,5% GDP, Thái Lan 25% GDP…. Nếu không có sự tham gia của các ngân hàng, sự khập khiễng sẽ còn lớn hơn.

Cơ cấu trái phiếu công ty của các nước phát triển. (Nguồn: OECD).

Trên thị trường chứng khoán, cổ phiếu của các ngân hàng vẫn được mệnh danh là cổ phiếu “vua” vì giá trị vốn hóa chiếm 30% toàn thị trường. Trong nhóm VN30, top cổ phiếu có vốn hóa lớn nhất thị trường, có 10 cổ phiếu là cổ phiếu ngân hàng. Vietcombank đứng đầu danh sách với giá trị vốn hóa hơn 350.000 tỷ đồng, cao hơn 20% so với doanh nghiệp tư nhân đứng thứ 2 là Vingroup.

Do đó, bất kỳ biến động nào của nhóm cổ phiếu này đều có thể dẫn đến biến động lớn của VN-Index nói chung. So với thị trường chứng khoán thế giới, theo số liệu tổng hợp từ website Nhà giao dịch chứng khoán được giải phóng (tính đến cuối năm 2021), vốn hóa của nhóm cổ phiếu công nghệ thông tin chiếm tỷ trọng lớn nhất thế giới (16,3%), tiếp theo là Tài chính (15,8 %), Y tế và chăm sóc sức khỏe (12,6%), Công nghiệp nặng (11,2%).

Tìm kiếm sự cân bằng trên thị trường vốn

Ở các nước tài chính phát triển, nhu cầu vốn của doanh nghiệp được đảm bảo với ba trụ cột chính là chứng khoán, trái phiếu và tín dụng ngân hàng. Trong đó, các ngân hàng chỉ cung cấp vốn trong ngắn hạn, còn thị trường chứng khoán và thị trường trái phiếu là nơi các doanh nghiệp tìm kiếm nguồn vốn trong trung và dài hạn.

Những con số trên cho thấy, các ngân hàng đóng vai trò quan trọng trên thị trường vốn Việt Nam, góp phần thúc đẩy thanh khoản, các tổ chức tư vấn, bảo lãnh phát hành, cung cấp dịch vụ thanh toán,… thúc đẩy thị trường phát triển. "Thực trạng này đã và đang tạo ra áp lực và rủi ro lớn cho hệ thống tổ chức tín dụng khi nguồn vốn chủ yếu là ngắn hạn (tỷ trọng huy động vốn ngắn hạn chiếm khoảng 82% tổng huy động vốn)", Thống đốc Ngân hàng Nhà nước TP. được đề cập tại Hội thảo về thị trường vốn mới đây.

Dù đã tận dụng được các kênh huy động vốn dài hạn từ trái phiếu, trả cổ tức để tăng vốn, vay nước ngoài nhưng tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn của các tổ chức tín dụng vẫn có xu hướng tăng trong hai năm qua. Trong những năm gần đây, đặc biệt trong bối cảnh dịch bệnh, tiền gửi dài hạn có xu hướng mỏng dần. Áp lực này ngày càng gia tăng khi thị trường ngày càng đòi hỏi sự minh bạch hơn để bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tư.

Mặc dù vài năm trước, tăng trưởng tín dụng thấp hơn, chỉ khoảng 14% / năm so với mức trên 18% / năm như những năm trước, nhưng để giảm phụ thuộc vào kênh tín dụng, các kênh huy động vốn khác, đặc biệt là thị trường cổ phiếu, trái phiếu. kênh phải phát triển thực chất hơn. Thị trường vốn Việt Nam đang có những bước phát triển nhanh chóng về số lượng, có thể nói là thị trường phát triển nhanh nhất trong khu vực. Nhưng đồng thời cũng phải đảm bảo chất lượng và đi vào chiều sâu của thị trường.

Việt Nam có chậm chân trong cuộc chơi ngân hàng số?

Việt Nam có đang chậm trong cuộc chơi ngân sách hàn số?

24 tháng 6 năm 2022

Các ngân hàng lạc quan với lợi nhuận vào năm 2022

Lê Huy


Không chỉ dẫn đầu về lượng phát hành, các ngân hàng còn là những người chơi lớn nhất trên thị trường trái phiếu.

Theo số liệu của Chính phủ, trong giai đoạn 2016-2021, quy mô thị trường vốn tăng trưởng bình quân 28,5% / năm. Hiện quy mô thị trường vốn đạt 134,5% GDP vào năm 2021, gấp 3,5 lần quy mô năm 2015. Trong đó, quy mô thị trường chứng khoán tương đương 93,8% GDP; quy mô thị trường trái phiếu đạt 39,7% GDP.

Cụ thể hơn, theo Hiệp hội Trái phiếu Việt Nam (VMBA), nếu xét riêng quy mô của kênh trái phiếu doanh nghiệp, tổng khối lượng phát hành năm 2021 sẽ đạt xấp xỉ 660.000 tỷ đồng, tương đương hơn 10%. GDP. Trong khi năm 2012, tỷ lệ này chỉ là 2%.

Trên thị trường chứng khoán, nếu như những năm trước, giá trị giao dịch cổ phiếu trên thị trường dao động quanh mức 5.000 – 7.000 tỷ đồng / phiên thì nay con số này đã tăng gấp 4 – 5 lần, những phiên giao dịch tỷ USD không còn quá xa lạ.

Số tài khoản mở mới liên tiếp cũng đạt mức kỷ lục, khi có hơn 270.000 tài khoản cá nhân được lập trong tháng 3 (mức cao nhất từ ​​trước đến nay), nâng tổng số tài khoản nhà đầu tư trong nước lên hơn 4,93 triệu, tương đương 5%. của toàn dân Việt Nam.

Nếu so với quy mô tín dụng hơn 11,1 triệu tỷ đồng (tính đến cuối tháng 4), nhu cầu tín dụng hàng năm lên tới hơn một triệu tỷ đồng của toàn nền kinh tế thì quy mô của hai kênh huy động vốn trên vẫn có thể được nói ở mức độ khiêm tốn.

Tuy nhiên, sự phát triển vẫn có thể nói là một tín hiệu tích cực cho nền kinh tế khi hệ thống vốn của Việt Nam lâu nay vẫn được coi là đặt nặng lên vai của hệ thống ngân hàng.

Ngân hàng là kênh dẫn vốn chính của thị trường

Bên cạnh nhiệm vụ đơn thuần là cung cấp tín dụng, có thể thấy hệ thống ngân hàng đóng một vai trò không nhỏ trên thị trường vốn Việt Nam. Trên thị trường trái phiếu, tính chung năm 2021, nhóm ngân hàng chiếm 35% tổng giá trị phát hành trái phiếu doanh nghiệp toàn thị trường, tăng 128% so với năm trước và ngang bằng với nhóm bất động sản.

Tính riêng trong tháng 4, trước động thái siết hoạt động trái phiếu của các doanh nghiệp bất động sản, nhóm ngân hàng đã chiếm hơn 90% tổng giá trị phát hành. Thông qua kênh này, các tổ chức tín dụng có thể huy động vốn trung dài hạn, giúp việc cân đối vốn để cho vay doanh nghiệp và người dân thuận lợi hơn.

Không chỉ dẫn đầu về lượng phát hành, các ngân hàng còn là những người chơi lớn nhất trên thị trường trái phiếu. Cũng theo số liệu của VMBA, 29% nhà đầu tư sơ cấp vào trái phiếu doanh nghiệp là các tổ chức tín dụng. Trong khi đó, công ty chứng khoán chiếm 27%, nhà đầu tư cá nhân chuyên nghiệp chiếm 8,6%, công ty bảo hiểm và quỹ đầu tư chỉ chiếm dưới 2%.

So với các nước phát triển (theo số liệu của OECD), các công ty bảo hiểm, quỹ hưu trí và quỹ đầu tư chiếm thị phần lớn hơn trên thị trường trái phiếu doanh nghiệp. Các tổ chức tiền tệ được OECD liệt kê dưới đây bao gồm các ngân hàng trung ương.

Hoặc nếu so sánh với một nền kinh tế tương đương như Thái Lan, các nhà đầu tư cá nhân là những người nắm giữ nhiều nhất, chiếm 33% tổng số trái phiếu doanh nghiệp đang lưu hành. Các công ty bảo hiểm và quỹ hưu trí lần lượt chiếm 20% và 15%.

Chưa kể, một số công ty chứng khoán tại Việt Nam là công ty liên kết, công ty con của ngân hàng, hoạt động dựa trên nguồn tiền của ngân hàng.

Mặc dù phát triển với tốc độ nhanh nhưng quy mô thị trường trái phiếu Việt Nam chưa thực sự lớn. So với các nước trong khu vực, quy mô thị trường trái phiếu doanh nghiệp của Malaysia là 56% GDP, Singapore 36,5% GDP, Thái Lan 25% GDP…. Nếu không có sự tham gia của các ngân hàng, sự khập khiễng sẽ còn lớn hơn.

Cơ cấu trái phiếu công ty của các nước phát triển. (Nguồn: OECD).

Trên thị trường chứng khoán, cổ phiếu của các ngân hàng vẫn được mệnh danh là cổ phiếu “vua” vì giá trị vốn hóa chiếm 30% toàn thị trường. Trong nhóm VN30, top cổ phiếu có vốn hóa lớn nhất thị trường, có 10 cổ phiếu là cổ phiếu ngân hàng. Vietcombank đứng đầu danh sách với giá trị vốn hóa hơn 350.000 tỷ đồng, cao hơn 20% so với doanh nghiệp tư nhân đứng thứ 2 là Vingroup.

Do đó, bất kỳ biến động nào của nhóm cổ phiếu này đều có thể dẫn đến biến động lớn của VN-Index nói chung. So với thị trường chứng khoán thế giới, theo số liệu tổng hợp từ website Nhà giao dịch chứng khoán được giải phóng (tính đến cuối năm 2021), vốn hóa của nhóm cổ phiếu công nghệ thông tin chiếm tỷ trọng lớn nhất thế giới (16,3%), tiếp theo là Tài chính (15,8 %), Y tế và chăm sóc sức khỏe (12,6%), Công nghiệp nặng (11,2%).

Tìm kiếm sự cân bằng trên thị trường vốn

Ở các nước tài chính phát triển, nhu cầu vốn của doanh nghiệp được đảm bảo với ba trụ cột chính là chứng khoán, trái phiếu và tín dụng ngân hàng. Trong đó, các ngân hàng chỉ cung cấp vốn trong ngắn hạn, còn thị trường chứng khoán và thị trường trái phiếu là nơi các doanh nghiệp tìm kiếm nguồn vốn trong trung và dài hạn.

Những con số trên cho thấy, các ngân hàng đóng vai trò quan trọng trên thị trường vốn Việt Nam, góp phần thúc đẩy thanh khoản, các tổ chức tư vấn, bảo lãnh phát hành, cung cấp dịch vụ thanh toán,… thúc đẩy thị trường phát triển. “Thực trạng này đã và đang tạo ra áp lực và rủi ro lớn cho hệ thống tổ chức tín dụng khi nguồn vốn chủ yếu là ngắn hạn (tỷ trọng huy động vốn ngắn hạn chiếm khoảng 82% tổng huy động vốn)”, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước TP. được đề cập tại Hội thảo về thị trường vốn mới đây.

Dù đã tận dụng được các kênh huy động vốn dài hạn từ trái phiếu, trả cổ tức để tăng vốn, vay nước ngoài nhưng tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn của các tổ chức tín dụng vẫn có xu hướng tăng trong hai năm qua. Trong những năm gần đây, đặc biệt trong bối cảnh dịch bệnh, tiền gửi dài hạn có xu hướng mỏng dần. Áp lực này ngày càng gia tăng khi thị trường ngày càng đòi hỏi sự minh bạch hơn để bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tư.

Mặc dù vài năm trước, tăng trưởng tín dụng thấp hơn, chỉ khoảng 14% / năm so với mức trên 18% / năm như những năm trước, nhưng để giảm phụ thuộc vào kênh tín dụng, các kênh huy động vốn khác, đặc biệt là thị trường cổ phiếu, trái phiếu. kênh phải phát triển thực chất hơn. Thị trường vốn Việt Nam đang có những bước phát triển nhanh chóng về số lượng, có thể nói là thị trường phát triển nhanh nhất trong khu vực. Nhưng đồng thời cũng phải đảm bảo chất lượng và đi vào chiều sâu của thị trường.

Việt Nam có chậm chân trong cuộc chơi ngân hàng số?

Việt Nam có đang chậm trong cuộc chơi ngân sách hàn số?

24 tháng 6 năm 2022

Các ngân hàng lạc quan với lợi nhuận vào năm 2022

Lê Huy

#Ngân #hàng #vẫn #là #tay #chơi #lớn #nhưng #tương #lai #thuộc #về #dòng #vốn #khác

[rule_3_plain]

#Ngân #hàng #vẫn #là #tay #chơi #lớn #nhưng #tương #lai #thuộc #về #dòng #vốn #khác

Không chỉ là đứng đầu về khía cạnh phát hành, các ngân hàng cũng là “tay chơi” lớn nhất trên thị trường trái phiếu.

Theo số liệu báo cáo của Chính phủ, trong giai đoạn 2016 – 2021, quy mô của thị trường vốn tăng trưởng bình quân 28,5%/năm. Hiện tại, quy mô thị trường vốn đạt 134,5% GDP năm 2021, gấp 3,5 lần quy mô năm 2015. Trong đó, quy mô vốn hóa thị trường cổ phiếu tương đương 93,8% GDP; quy mô thị trường trái phiếu đạt 39,7% GDP.
Cụ thể hơn, theo số liệu của Hiệp hội Trái phiếu Việt Nam (VMBA), tính riêng quy mô của kênh trái phiếu doanh nghiệp, tổng khối lượng phát hành trong năm 2021 đạt xấp xỉ 660.000 tỷ đồng, tương đương khoảng hơn 10% GDP. Trong khi vào năm 2012, tỷ lệ này chỉ ở mức 2%.
Trên thị trường chứng khoán, nếu như trong những năm trước đó, giá trị giao dịch cổ phiếu trên thị trường dao động quanh mức 5.000 – 7.000 tỷ đồng/phiên, thì nay con số này đã tăng lên 4 – 5 lần, những phiên giao dịch tỷ USD không còn quá xa lạ.
Số tài khoản mở mới cũng liên tiếp đạt kỷ lục, khi có tới hơn 270.000 tài khoản cá nhân được lập trong tháng 3 vừa qua (mức cao nhất từ trước tới nay), nâng tổng số tài khoản nhà đầu tư trong nước lên hơn 4,93 triệu, tương đương 5% dân số toàn Việt Nam.
Nếu so sánh với quy mô tín dụng lên đến hơn 11,1 triệu tỷ đồng (tính tới cuối tháng 4), nhu cầu tín dụng mỗi năm đạt trên hơn một triệu tỷ đồng của toàn nền kinh tế, thì quy mô của hai kênh huy động vốn trên vẫn có thể nói ở mức khiêm tốn.
Dù vậy, sự phát triển vẫn có thể nói là tín hiệu tích cực đối với nền kinh tế khi hệ thống dẫn vốn của Việt Nam lâu nay vẫn được đánh giá là đặt nặng trên vai hệ thống ngân hàng.
Ngân hàng đang là kênh điều vốn chính của thị trường
Bên cạnh nhiệm vụ cung cấp tín dụng đơn thuần, có thể thấy hệ thống ngân hàng đóng một vai trò không hề nhỏ trên thị trường vốn của Việt Nam. Trên thị trường trái phiếu, xét chung trong 2021, nhóm ngân hàng chiếm tới 35% tổng giá trị phát hành trái phiếu doanh nghiệp trên toàn thị trường, tăng 128% so với năm trước và ngang với nhóm bất động sản.
Nếu xét riêng trong tháng 4 vừa qua, trước động thái siết chặt hoạt động trái phiếu của các doanh nghiệp bất động sản, nhóm ngân hàng chiếm tới hơn 90% tổng giá trị phát hành. Thông qua kênh này, tổ chức tín dụng có thể huy động được nguồn vốn trung dài hạn, giúp cân đối vốn để cho vay đối với doanh nghiệp và người dân thuận lợi hơn.
Không chỉ là đứng đầu về khía cạnh phát hành, các ngân hàng cũng là “tay chơi” lớn nhất trên thị trường trái phiếu. Cũng theo số liệu của VMBA, 29% nhà đầu tư sơ cấp trái phiếu doanh nghiệp là các tổ chức tín dụng. Trong khi đó, các công ty chứng khoán chiếm 27%, nhà đầu tư cá nhân chuyên nghiệp chiếm 8,6%, công ty bảo hiểm và quỹ đầu tư chiếm chưa tới 2%.
So sánh với các quốc gia phát triển (theo số liệu của OECD), công ty bảo hiểm, các quỹ hưu trí và các quỹ đầu tư chiếm tỷ trọng lớn hơn trên thị trường trái phiếu doanh nghiệp. Các tổ chức tiền tệ được OECD thống kê dưới đây được bao gồm cả ngân hàng trung ương.
Hay nếu so sánh với một nền kinh tế tương đương là Thái Lan, các nhà đầu tư cá nhân là người nắm giữ nhiều nhất, chiếm 33% tổng số trái phiếu doanh nghiệp đang lưu hành. Các công ty bảo hiểm và các quỹ hưu trí chiếm tỷ lệ lần lượt là 20% và 15%.
Chưa kể, một số công ty chứng khoán của Việt Nam là những công ty liên kết, công ty con của các ngân hàng, hoạt động dựa trên nguồn tiền của các nhà băng.
Dù phát triển với tốc độ nhanh, nhưng quy mô thị trường trái phiếu của Việt Nam chưa thực sự lớn. So với các nước trong khu vực, quy mô thị trường trái phiếu doanh nghiệp của Malaysia là 56% GDP, Singapore 36,5% GDP, Thái Lan 25% GDP…. Nếu không có sự tham gia của các nhà băng, sự khập khiễng sẽ còn lớn hơn.

Cơ cấu trái chủ doanh nghiệp của các quốc gia phát triển. (Nguồn: OECD).

Trên thị trường cổ phiếu, cổ phiếu các ngân hàng vẫn được gọi là nhóm cổ phiếu “vua” bởi vốn hóa chiếm đến 30% toàn thị trường. Trong nhóm VN30, top những cổ phiếu có vốn hóa lớn đầu thị trường, đã có đến 10 mã là cổ phiếu ngân hàng. Vietcombank đứng đầu danh sách với vốn hóa đạt hơn 350.000 tỷ đồng, cao hơn 20% so với doanh nghiệp tư nhân xếp sau đó là Vingroup.
Do đó, mọi biến động của nhóm cổ phiếu này có thể dẫn đến những thay đổi lớn của VN-Index nói chung. Đối chiếu với thị trường chứng khoán thế giới, theo số liệu được tổng hợp từ trang Liberated Stock Trader (tính đến hết 2021), vốn hóa của nhóm cổ phiếu công nghệ thông tin chiếm tỷ trọng lớn nhất toàn cầu (16,3%), xếp sau đó là Tài chính (15,8%), Sức khỏe và Y tế (12,6%), Công nghiệp nặng (11,2%).
Đi tìm sự cân bằng trên thị trường vốn
Tại các nền tài chính phát triển, nhu cầu vốn của doanh nghiệp được đảm bảo với ba trụ cột chính là chứng khoán, trái phiếu và tín dụng ngân hàng. Trong đó, ngân hàng chỉ cung cấp nguồn vốn trong ngắn hạn, còn thị trường chứng khoán và thị trường trái phiếu là nơi doanh nghiệp tìm kiếm nguồn vốn trong trung và dài hạn.
Những số liệu trên cho thấy ngân hàng có vai trò quan trọng trên thị trường vốn Việt Nam, góp phần thúc đẩy thanh khoản, tổ chức tư vấn, tổ chức bảo lãnh phát hành, đơn vị cung ứng dịch vụ thanh toán,… đẩy mạnh phát triển thị trường. “Thực trạng này đã và đang tạo sức ép và rủi ro lớn cho hệ thống tổ chức tín dụng khi nguồn vốn chủ yếu là ngắn hạn (tỷ lệ huy động vốn ngắn hạn chiếm khoảng 82% tổng huy động vốn)”, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước nêu lên tại Hội nghị về thị trường vốn vừa qua.
Mặc dù đã tận dụng các kênh huy động vốn dài hạn từ trái phiếu, chia cổ tức tăng vốn hay vay nước ngoài, mặt bằng tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn của các tổ chức tín dụng đều có xu hướng tăng trong các năm trở lại đây, đặc biệt trong bối cảnh dịch bệnh khiến tiền gửi dài hạn càng có xu hướng mỏng dần. Áp lực này đang ngày càng lớn hơn khi thị trường ngày càng yêu cầu cao hơn về tính minh bạch nhằm bảo vệ quyền lợi nhà đầu tư. 
Dù một vài năm trở lại đây, tín dụng đã tăng thấp hơn, chỉ khoảng 14%/năm so với trên 18%/năm như các năm trước, nhưng để giảm phụ thuộc vào kênh tín dụng thì các kênh huy động vốn khác, đặc biệt là kênh thị trường cổ phiếu, trái phiếu phải phát triển thực chất hơn nữa. Thị trường vốn của Việt Nam đang có những bước đi nhanh về lượng, có thể nói là những thị trường có tốc độ phát triển nhanh hàng đầu khu vực. Nhưng song song với đó cần phải đảm bảo được về chất, đi được vào chiều sâu của thị trường.

Việt Nam có đang chậm chân trong cuộc chơi ngân hàng số?

24-06-2022

Nhà băng lạc quan với lợi nhuận năm 2022

Lê Huy

Theo Doanh Nghiệp & Kinh Doanh

Link bài gốc
https://doanhnghiepkinhdoanh.doanhnhanvn.vn/ngan-hang-van-la-tay-choi-lon-nhung-tuong-lai-thuoc-ve-dong-von-khac-42202262593930752.htm

#Ngân #hàng #vẫn #là #tay #chơi #lớn #nhưng #tương #lai #thuộc #về #dòng #vốn #khác

[rule_2_plain]

#Ngân #hàng #vẫn #là #tay #chơi #lớn #nhưng #tương #lai #thuộc #về #dòng #vốn #khác

[rule_2_plain]

#Ngân #hàng #vẫn #là #tay #chơi #lớn #nhưng #tương #lai #thuộc #về #dòng #vốn #khác

[rule_3_plain]

#Ngân #hàng #vẫn #là #tay #chơi #lớn #nhưng #tương #lai #thuộc #về #dòng #vốn #khác

Không chỉ là đứng đầu về khía cạnh phát hành, các ngân hàng cũng là “tay chơi” lớn nhất trên thị trường trái phiếu.

Theo số liệu báo cáo của Chính phủ, trong giai đoạn 2016 – 2021, quy mô của thị trường vốn tăng trưởng bình quân 28,5%/năm. Hiện tại, quy mô thị trường vốn đạt 134,5% GDP năm 2021, gấp 3,5 lần quy mô năm 2015. Trong đó, quy mô vốn hóa thị trường cổ phiếu tương đương 93,8% GDP; quy mô thị trường trái phiếu đạt 39,7% GDP.
Cụ thể hơn, theo số liệu của Hiệp hội Trái phiếu Việt Nam (VMBA), tính riêng quy mô của kênh trái phiếu doanh nghiệp, tổng khối lượng phát hành trong năm 2021 đạt xấp xỉ 660.000 tỷ đồng, tương đương khoảng hơn 10% GDP. Trong khi vào năm 2012, tỷ lệ này chỉ ở mức 2%.
Trên thị trường chứng khoán, nếu như trong những năm trước đó, giá trị giao dịch cổ phiếu trên thị trường dao động quanh mức 5.000 – 7.000 tỷ đồng/phiên, thì nay con số này đã tăng lên 4 – 5 lần, những phiên giao dịch tỷ USD không còn quá xa lạ.
Số tài khoản mở mới cũng liên tiếp đạt kỷ lục, khi có tới hơn 270.000 tài khoản cá nhân được lập trong tháng 3 vừa qua (mức cao nhất từ trước tới nay), nâng tổng số tài khoản nhà đầu tư trong nước lên hơn 4,93 triệu, tương đương 5% dân số toàn Việt Nam.
Nếu so sánh với quy mô tín dụng lên đến hơn 11,1 triệu tỷ đồng (tính tới cuối tháng 4), nhu cầu tín dụng mỗi năm đạt trên hơn một triệu tỷ đồng của toàn nền kinh tế, thì quy mô của hai kênh huy động vốn trên vẫn có thể nói ở mức khiêm tốn.
Dù vậy, sự phát triển vẫn có thể nói là tín hiệu tích cực đối với nền kinh tế khi hệ thống dẫn vốn của Việt Nam lâu nay vẫn được đánh giá là đặt nặng trên vai hệ thống ngân hàng.
Ngân hàng đang là kênh điều vốn chính của thị trường
Bên cạnh nhiệm vụ cung cấp tín dụng đơn thuần, có thể thấy hệ thống ngân hàng đóng một vai trò không hề nhỏ trên thị trường vốn của Việt Nam. Trên thị trường trái phiếu, xét chung trong 2021, nhóm ngân hàng chiếm tới 35% tổng giá trị phát hành trái phiếu doanh nghiệp trên toàn thị trường, tăng 128% so với năm trước và ngang với nhóm bất động sản.
Nếu xét riêng trong tháng 4 vừa qua, trước động thái siết chặt hoạt động trái phiếu của các doanh nghiệp bất động sản, nhóm ngân hàng chiếm tới hơn 90% tổng giá trị phát hành. Thông qua kênh này, tổ chức tín dụng có thể huy động được nguồn vốn trung dài hạn, giúp cân đối vốn để cho vay đối với doanh nghiệp và người dân thuận lợi hơn.
Không chỉ là đứng đầu về khía cạnh phát hành, các ngân hàng cũng là “tay chơi” lớn nhất trên thị trường trái phiếu. Cũng theo số liệu của VMBA, 29% nhà đầu tư sơ cấp trái phiếu doanh nghiệp là các tổ chức tín dụng. Trong khi đó, các công ty chứng khoán chiếm 27%, nhà đầu tư cá nhân chuyên nghiệp chiếm 8,6%, công ty bảo hiểm và quỹ đầu tư chiếm chưa tới 2%.
So sánh với các quốc gia phát triển (theo số liệu của OECD), công ty bảo hiểm, các quỹ hưu trí và các quỹ đầu tư chiếm tỷ trọng lớn hơn trên thị trường trái phiếu doanh nghiệp. Các tổ chức tiền tệ được OECD thống kê dưới đây được bao gồm cả ngân hàng trung ương.
Hay nếu so sánh với một nền kinh tế tương đương là Thái Lan, các nhà đầu tư cá nhân là người nắm giữ nhiều nhất, chiếm 33% tổng số trái phiếu doanh nghiệp đang lưu hành. Các công ty bảo hiểm và các quỹ hưu trí chiếm tỷ lệ lần lượt là 20% và 15%.
Chưa kể, một số công ty chứng khoán của Việt Nam là những công ty liên kết, công ty con của các ngân hàng, hoạt động dựa trên nguồn tiền của các nhà băng.
Dù phát triển với tốc độ nhanh, nhưng quy mô thị trường trái phiếu của Việt Nam chưa thực sự lớn. So với các nước trong khu vực, quy mô thị trường trái phiếu doanh nghiệp của Malaysia là 56% GDP, Singapore 36,5% GDP, Thái Lan 25% GDP…. Nếu không có sự tham gia của các nhà băng, sự khập khiễng sẽ còn lớn hơn.

Cơ cấu trái chủ doanh nghiệp của các quốc gia phát triển. (Nguồn: OECD).

Trên thị trường cổ phiếu, cổ phiếu các ngân hàng vẫn được gọi là nhóm cổ phiếu “vua” bởi vốn hóa chiếm đến 30% toàn thị trường. Trong nhóm VN30, top những cổ phiếu có vốn hóa lớn đầu thị trường, đã có đến 10 mã là cổ phiếu ngân hàng. Vietcombank đứng đầu danh sách với vốn hóa đạt hơn 350.000 tỷ đồng, cao hơn 20% so với doanh nghiệp tư nhân xếp sau đó là Vingroup.
Do đó, mọi biến động của nhóm cổ phiếu này có thể dẫn đến những thay đổi lớn của VN-Index nói chung. Đối chiếu với thị trường chứng khoán thế giới, theo số liệu được tổng hợp từ trang Liberated Stock Trader (tính đến hết 2021), vốn hóa của nhóm cổ phiếu công nghệ thông tin chiếm tỷ trọng lớn nhất toàn cầu (16,3%), xếp sau đó là Tài chính (15,8%), Sức khỏe và Y tế (12,6%), Công nghiệp nặng (11,2%).
Đi tìm sự cân bằng trên thị trường vốn
Tại các nền tài chính phát triển, nhu cầu vốn của doanh nghiệp được đảm bảo với ba trụ cột chính là chứng khoán, trái phiếu và tín dụng ngân hàng. Trong đó, ngân hàng chỉ cung cấp nguồn vốn trong ngắn hạn, còn thị trường chứng khoán và thị trường trái phiếu là nơi doanh nghiệp tìm kiếm nguồn vốn trong trung và dài hạn.
Những số liệu trên cho thấy ngân hàng có vai trò quan trọng trên thị trường vốn Việt Nam, góp phần thúc đẩy thanh khoản, tổ chức tư vấn, tổ chức bảo lãnh phát hành, đơn vị cung ứng dịch vụ thanh toán,… đẩy mạnh phát triển thị trường. “Thực trạng này đã và đang tạo sức ép và rủi ro lớn cho hệ thống tổ chức tín dụng khi nguồn vốn chủ yếu là ngắn hạn (tỷ lệ huy động vốn ngắn hạn chiếm khoảng 82% tổng huy động vốn)”, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước nêu lên tại Hội nghị về thị trường vốn vừa qua.
Mặc dù đã tận dụng các kênh huy động vốn dài hạn từ trái phiếu, chia cổ tức tăng vốn hay vay nước ngoài, mặt bằng tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn của các tổ chức tín dụng đều có xu hướng tăng trong các năm trở lại đây, đặc biệt trong bối cảnh dịch bệnh khiến tiền gửi dài hạn càng có xu hướng mỏng dần. Áp lực này đang ngày càng lớn hơn khi thị trường ngày càng yêu cầu cao hơn về tính minh bạch nhằm bảo vệ quyền lợi nhà đầu tư. 
Dù một vài năm trở lại đây, tín dụng đã tăng thấp hơn, chỉ khoảng 14%/năm so với trên 18%/năm như các năm trước, nhưng để giảm phụ thuộc vào kênh tín dụng thì các kênh huy động vốn khác, đặc biệt là kênh thị trường cổ phiếu, trái phiếu phải phát triển thực chất hơn nữa. Thị trường vốn của Việt Nam đang có những bước đi nhanh về lượng, có thể nói là những thị trường có tốc độ phát triển nhanh hàng đầu khu vực. Nhưng song song với đó cần phải đảm bảo được về chất, đi được vào chiều sâu của thị trường.

Việt Nam có đang chậm chân trong cuộc chơi ngân hàng số?

24-06-2022

Nhà băng lạc quan với lợi nhuận năm 2022

Lê Huy

Theo Doanh Nghiệp & Kinh Doanh

Link bài gốc
https://doanhnghiepkinhdoanh.doanhnhanvn.vn/ngan-hang-van-la-tay-choi-lon-nhung-tuong-lai-thuoc-ve-dong-von-khac-42202262593930752.htm

Nguồn: besttaichinh.com

#Ngân #hàng #vẫn #là #tay #chơi #lớn #nhưng #tương #lai #thuộc #về #dòng #vốn #khác

Xem thêm thông tin hay:  Thêm một sàn giao dịch tiền số bị điều tra
Best Tài Chính
Best Tài Chínhhttp://besttaichinh.com
Là người sáng lập Website BestTaiChinh.Com - Với nhiều năm kinh nghiệm trong lĩnh vực tài chính ngân hàng, Bitcoin, chứng khoáng ... sẽ sử dụng các kiến thức được tổng hợp và đúc kết để cung cấp đến các bạn những thông tin chính xác, tư vấn hỗ trợ xử lý các dịch vụ tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, đầu tư hiệu quả nhất!

Similar Articles

Comments

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây

Advertisment

Phổ biến nhất